Bài tựa về Hồ Tây của "Thần Siêu"

14/06/2010 | 10:15:00

(Chinhphu.vn) - Đây là bài tựa trích trong Phương Đình văn loại của Nguyễn Văn Siêu, một người con của Hà Nội, cũng là người hiểu Hà Nội đến từng chân tơ kẽ tóc, văn chương lừng lẫy một thời.

>> Người dựng Đài Nghiên - Tháp Bút viết về Hồ Gươm

Chiều Hồ Tây

Mùa đã cuối Hạ, tiết chuyển sang Thu. Nắng gắt đã dịu, hơi mát dần mở. Gió thông thanh trong, hương sen bát ngát. Thời gian thấm thoắt, thấy cảnh rung động tâm tình.

Thế sự bàn cờ, ngày đêm trăn trở cảm khái.

Bấy giờ ra ngoài thành dạo bước, gót chân bịn rịn ở bên hồ.

Hồ này nguyên gọi Dâm Đàm, lại có tên là Lãng Bạc.

Mặt trời lên trong sương khói buông tỏa, nước đằng Đông thông tận Bến Nhị Hà. Mặt hồ dâng tận chân trời, quành sang Tây nhập với dòng Tô Lịch.

Đáy sông trong vắt in bóng trời xanh.

Đầu bến đá ngọc ngăn kín, mây đan thành ngọn núi kỳ khôi. Giữa làn sóng lăn tăn ẩn hiện, thấy nổi chìm thấp thoáng nhấp nhô. Trong thế dọc ngang vượt bến, đường gần lối xa; sắp xếp lạ kỳ, sắc màu khôn xiết. Làng xóm gần bên, nhập vào vùng cây xanh bát ngát, thành quách xa xa lẫn vào màu núi biếc của Khán Sơn. Lâu đài nối nhau cao ngất, uy nghi rải rác suốt Đông Tây; Hoàng cung bày ra khí thế. Tả hữu đài câu ẩn hiện, cảnh đẹp chẳng khác dấu vết Nghiêm Lăng(1); dòng u dật không thua vẻ phong lưu Tây Tử(2). Thuyền nhẹ chèo khua, bốn bề qua lại. Ngựa uống trâu dầm, ven bờ thấp thoáng. Xóm xa vọng lại tiếng chày, thuyền chài vang vang nhịp gõ. Làn gió vút cây cao, rộn rã hòa chuông chùa âm hưởng. Cảnh người thật mà cũng là cảnh thần tiên. Dòng uốn quanh soi bóng rung rinh, kìa chim tắm cá bơi vui vẻ. Bến thoai thoải tự nhiên mà có, cảnh hài hòa hết tầm mắt nhìn xa. Trầm lặng nghĩ suy, lòng bỗng cảm nỗi niềm lo sợ. Lời các cụ trong xóm vẫn truyền, nhớ cảnh trước còn đẹp hơn thế nữa. Đài Cô Tư(3) ngắm trăng, hoang vắng chốn hươu nai; Hồ Thái Dịch(4) thưởng sen, còn trơ ổ cò sếu. Hoa tươi lá biếc, sắc tàn bay loạn chiều tà; sáo ngọc nhà vàng, tiếng chìm theo làn nước chảy.

Than ôi! Mây sóng đổi dời, biến chuyển cùng việc đời kim cổ; phong cảnh đầy vơi, vinh nhục chung với non sông một thuở. Khó bàn đến sự đổi thay, liễu cũ như mới, tuy trời đất vô cùng mà giang sơn vẫn trẻ, thịnh suy có số, đủ xem tạo hóa diệu huyền. Doanh khuy đắp đổi, đừng vì chông gai than thở; kẻ đạt nhân là vậy, bọn sinh ra đâu biết thấu nguyên do.

Ta muốn nhắc lớp trẻ, nay trong cảnh giàu sang, đọc sách múa kiếm, thẹn vì nghề mọn không tinh; làm ruộng làm vườn, tự lòng biết là điều khó. Mặc trời xanh sắp đặt, gửi du hứng theo thời gian. Nhàn nhã tìm nhà Viên Tử(5), thỉnh thoảng đến thăm Ngưu Chử(6), sảng khoái bàn tư tưởng Mạnh Lãng(7), rỗi rãi bơi thuyền Động Đình(8), vui hơn thì kèm bầu rượu. Như vậy thì đây là Dao Trì(9), đủ thanh cao để giặt dải mũ, hà tất phải tìm Thương Thủy(10). Mời khách vãn cảnh, thả ý vui đầy thuyền; xúc cảm nên lời, gửi tấc lòng muôn thuở.

Chú giải:

(1) Nghiêm Lăng: Tức Nghiêm Lăng Lại, cồn ngồi câu của Khương Thượng (tức Khương Tử Nha) lúc ông chưa ra giúp nhà Chu bình thiên hạ.

(2) Tây Tử: Tức Tây Thi, người con gái nước Việt, đẹp nổi tiếng thời Xuân Thu. Tô Đông Pha (người đời Tống) có câu thơ: Dục bả Tây Hồ tỷ Tây Tử; nghĩa là: Muốn đem Tây Hồ (Trung Quốc) sánh với Tây Tử. Vì vậy về sau. Tây Hồ còn được gọi là Tây Tử Hồ.

(3) Cô Tư: Một cái đài trong dãy Núi Cô Tô ở Tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.     

(4) Thái Dịch: Một  cái hồ đẹp xưa ở Tây Uyển (Vườn Tây) tại Bắc Kinh.

(5) Viên Tử: Có lẽ chỉ Viên Xán, người thời Nam Bắc triều, Trung Quốc. Viên Xán thích ngao du sơn thủy, hay thơ. Hứng lên thì bỏ cả việc quan đi ngao du, làm thơ.

(6) Ngưu Chử: Tức Núi Ngưu Chử ở Tỉnh An Huy, Trung Quốc. Tương truyền có lần nhà thơ Lý Bạch đi qua Ngưu Chử, say rượu vồ trăng dưới nước. Người đời sau dựng Tróc Nguyệt đình ở Ngưu Chử, kỷ niệm giai thoại vồ trăng của Lý Bạch.

(7) Mạnh Lãng: Chữ trong thiên Tề Vật luận của Trang Tử; ý chỉ sự tự do, thoải mái.

(8) Động Đình: Một hồ nổi tiếng ở Tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Hồ Động Đình có nhiều nhánh thông với Trường Giang, cũng như Hồ Tây có nhánh thông với Hồng Hà.

(9) Dao Trì: Ao Ngọc; thường chỉ nơi tiên vui chơi.

(10) Thương Thủy: Sông Thương Lang, hạ lưu Sông Hán ở Tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Thiên Ly lâu, sách Mạnh Tử có câu:

            Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngô anh

            Thương Lang chi thủy trọc hề khả dĩ trạc ngô túc.

            (Nước Thương Lang trong thì ta giặt dải mũ;

            Nước Thương Lang đục thì ta rửa chân.)

Trích Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long

Bản để in Lưu vào bookmark

Xem tiếp