Danh lam thắng cảnh Hà Nội
21/08/2009
|
08:31:59
|
ĐÌNH, ĐỀN, CHÙA
|
CÁC ĐỊA DANH KHÁC
|
KHU DU LỊCH,
SINH THÁI
|
|
1.
Chùa Một Cột
2.
Chùa Trấn
Quốc
3.
Chùa Quán Sứ
4.
Chùa Đậu
5.
Chùa Hương
6.
Chùa Thầy
7.
Chùa Trăm
Gian
8.
Chùa Tây
Phương
9.
Chùa Trầm
10.
Chùa Mía
11.
Đền Quán
Thánh
12.
Đền thờ Hai
Bà Trưng
13.
Đền Gióng
14.
Đền Kim Liên
15.
Đền Voi Phục
16.
Đền Bạch Mã
17.
Đền Ngọc Sơn
18.
Đền Và
19.
Phủ Tây Hồ
|
1.
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
2.
Nhà sàn Bác Hồ
3.
Quảng trường Ba Đình
4.
Tháp Rùa
5.
Hồ Hoàn Kiếm
6.
Hồ Trúc Bạch
7.
Hồ Tây
8.
Cột cờ Hà Nội
9.
Văn Miếu - Quốc Tử Giám
10.
Thành cổ Hà Nội
11.
Nhà hát Lớn
12.
Ngôi nhà cổ 87 Mã Mây
13.
Ngôi nhà cổ 38 Hàng Đào
14.
Chợ Đồng Xuân
15.
Làng lụa Vạn Phúc
16.
Làng cổ Đường Lâm
17.
Làng gốm Bát Tràng
18.
Thành Cổ Loa
19.
Thành cổ Sơn Tây
20.
Nhà thờ Lớn
21.
Phố cổ Hà Nội
22.
Bảo tàng Hồ Chí Minh
23.
Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
24.
Bảo tàng Mỹ thuật
25.
Bảo tàng Cách mạng
26.
Bảo tàng Dân tộc học
27.
Gò Đống Đa
28.
Vườn hoa Chí Linh - Tượng đài Lý Thái Tổ
|
1.
Vườn quốc gia Ba Vì
2.
Khoang Xanh
3.
Ao Vua
4.
Đầm Long
5.
Thiên Sơn Suối Ngà
6.
Suối Ngọc Vua Bà
7.
Đồng Mô
8.
Thác Đa
|
ĐÌNH,
ĐỀN, CHÙA
1. CHÙA MỘT
CỘT
Địa chỉ: Phố Chùa Một Cột, quận Ba Đình, Hà Nội
Chùa Một Cột nằm trong quần thể chùa Diên Hựu trên
đất thôn Thanh Bảo, huyện Quảng Đức, phía Tây hoàng thành Thǎng Long thời Lý,
nay thuộc phố Chùa Một Cột, quận Ba Đình - Hà Nội.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, chùa được xây
dựng vào mùa đông tháng 10 âm lịch nǎm Kỷ Sửu, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo 1
(1409) đời Lý Thái Tông. Vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) chiêm bao thấy Phật Quan
Âm trên toà sen đưa tay dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy vua nói với bề tôi và nhà
sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa đất, làm toà sen của Phật
Quan Âm như đã thấy ở trong mộng. Khi chùa khánh thành, các sư chay đàn, tụng
kinh cầu nhà vua sống lâu. Hàng năm cứ đến ngày mùng 8 tháng Tư âm lịch, nhà vua
lại đến chùa làm lễ tắm Phật. Các nhà sư và nhân dân kinh thành Thăng Long cùng
dự lễ. Sau lễ tắm Phật là lễ phóng sinh, vua đứng trên một đài cao trước chùa
thả một con chim bay đi, rồi nhân dân cùng tung chim bay theo trong tiếng reo
vui của một ngày hội.
Chùa xây chỉ có một gian gọi là Liên Hoa Đài (đài
hoa sen), ta quen gọi là chùa Một Cột, có hình vuông mỗi chiều 3m, mái cong dựng
trên cột đá hình trụ cao 4m (chưa kể phần chìm dưới đất) có đường kính 1,2m. Trụ
đá gồm 2 khối, gắn rất khéo, thoạt nhìn như một khối đá liền. Sự độc đáo của
kiến trúc chùa Một Cột là toàn bộ ngôi chùa được đặt trên một cột đá.
Ở đây có sự kết hợp táo bạo của trí tưởng tượng lãng mạn đầy thi vị qua hình
tượng hoa sen và những giải pháp hoàn hảo về kết cấu kiến trúc gỗ bằng hệ thống
móng giằng, đặc biệt là sử dụng các cột chống chéo lớn từ cột đến sàn, vừa tạo
thế vững chắc, vừa mang lại hiệu quả thẩm mỹ như đường lượn của cánh sen, thiết
lập sự hài hoà giữa mái và sàn bởi một đối xứng ảo.
Chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm
1840 -
1850 và vào
năm
1922. Đài Liên
Hoa chúng ta thấy hiện nay được sửa chữa lại năm
1955 do kiến
trúc sư Nguyễn Bá Lăng đảm nhiệm.
Chùa Một cột đã được Bộ Vǎn hoá - Thể thao và Du
lịch xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật ngày 28/4/1962.
2. CHÙA TRẤN
QUỐC
Địa chỉ: Đường Thanh Niên, Ba Đình, Hà Nội
Soi mình bên bóng nước hồ Tây đã 15 thế kỷ, chùa
Trấn Quốc là ngôi chùa cổ nhất, với bao huyền thoại từ tên gọi Khai Quốc, nay
trở thành một di sản văn hóa trong lòng Hà Nội. Chùa Trấn Quốc thuộc địa phận
làng Yên Hoa bên bờ sông Hồng (nay nằm trên đường Thanh Niên thuộc phường Yên
Phụ, quận Tây Hồ).
Vào thời vua
Lý Nam Đế (544
-
548), chùa có
tên là Khai Quốc. Đến niên hiệu
Đại Bảo, đời
vua
Lê Thái Tông,
chùa được đổi tên thành An Quốc. Đến đời Lê Trung Hưng năm
1615, do bãi
sông bị lở gần vào đến chùa, nhân dân phường Yên Hoa (sau này là Yên Phụ) mới
dời chùa vào đảo Cá Vàng ở
Hồ Tây, là địa
điểm hiện nay của chùa. Chùa được dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời
nhà Lý) và
điện Hàn Nguyên (thời
nhà Trần). Sau
đó, người ta cho đắp đê Cổ Ngư và tạo đường nối từ đê với đảo Cá Vàng. Chùa được
trùng tu với quy mô lớn nhất là vào đời vua
Lê Thần Tông
năm
1639.
Trạng nguyên
Nguyễn Xuân Chính
đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm
1639 về công
việc tôn tạo này.
Đến niên hiệu
Chính Hòa (1680
-
1705) đời vua
Lê Hy Tông,
chùa đổi tên là Trấn Quốc. Đầu đời
nhà Nguyễn,
chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, vua
Minh Mạng đến
thăm chùa, ban 20 lạng
bạc để tu sửa.
Đến năm
1842, vua
Thiệu Trị tuần
du ra Bắc, ban 1 đồng tiền
vàng lớn và
200
quan tiền, đổi
tên chùa là Trấn Bắc, nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được
nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.
Chùa có lối kiến trúc độc đáo gồm nhiều lớp, nhiều
tượng Phật được xếp từ thấp đến cao, từ to đến nhỏ.... Chùa có 3 nếp nhà chính
là tiền đường, nhà thiêu hương và thượng điện nối thành hình chữ Công (工).
Hai bên nhà thiêu hương và thượng điện là hai dãy hành lang. Sau thượng điện là
gác chuông. Bên phải là nhà tổ và bên trái là nhà bia. Trong chùa hiện nay còn
lưu giữ 14 tấm bia. Tấm bia năm
1815 có bài
văn của tiến sĩ
Phạm Quý Thích
nhắc đến việc xây dựng chùa sau một thời gian dài đổ nát. Công việc này bắt đầu
vào năm
1813 và kết
thúc vào năm
1815. Đặc biệt
chùa còn có vườn tháp lớn với rất nhiều tháp. Ở khuôn viên chùa có cây bồ đề xum
xuê cành lá, đó là quà tặng của
Tổng thống
Ấn Độ khi ông
đến thăm
Hà Nội năm
1959.
Chùa Trấn Quốc đã sống một cuộc đời riêng, hòa chung
trong lịch sử của đất Thăng Long ngàn năm văn hiến mà mỗi viên ngói trên mái
chùa rêu phong đều mang trong mình một câu chuyện, gợi lên hoài niệm về những kí
ức của Hà Nội.
3. CHÙA QUÁN
SỨ
Địa chỉ: Số 73 phố Quán Sứ, phường Trần Hưng Ðạo,
quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Chùa Quán Sứ được xây dựng vào thế kỷ XV nằm trên địa phận thôn An Tập,
phường Cổ Vũ, tổng Tiền Nghiêm (sau đổi là tổng Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương;
ngày nay là phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Năm 1934, Tổng hội Phật giáo
Bắc Kỳ thành lập, chùa Quán Sứ được chọn làm trụ sở. Năm 1942 chùa đã được xây
dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân
Tùng do chính Tổ Vĩnh Nghiêm duyệt.
Tam quan chùa kiểu ba tầng mái, chính giữa là lầu
chuông. Đi qua một sân gạch nhỏ, bước lên 11 bậc thềm là tới chính điện, hình
vuông, có hành lang bao quanh, điện Phật được bài trí trang nghiêm, các pho
tượng đều khá lớn và thếp vàng lộng lẫy, phía trong cùng thờ ba vị Tam thế Phật
trên bậc cao nhất. Bậc kế tiếp thờ tượng Phật A-di-đà ở giữa, hai bên có tượng
Quan Thế Âm và Đại Thế Chí. Bậc dưới đó, ở giữa thờ Phật Thích-ca, hai bên là
A-nan-đà và Ca-diếp. Bậc thấp nhất, ở ngoài cùng có tòa Cửu Long đứng giữa tượng
Quan Âm và Địa Tạng. Gian bên phải chánh điện thờ Lý Quốc Sư (tức Thiền sư Minh
Không) với hai thị giả, gian bên trái thờ tượng Đức Ông và tượng Châu Sương,
Quan Bình.
Các nhà chính và nhà phụ chùa Quán Sứ đều rộng rãi.
Nơi đây từng là trụ sở báo Đuốc Tuệ. Hiện nay chùa có giảng đường, thư viện, là
nơi đặt văn phòng Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và văn phòng tổ chức
Phật giáo châu Á vì hòa bình (ở Việt Nam).
4. CHÙA ĐẬU
Địa chỉ: Thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, Thường
Tín, Hà Nội
Theo tích xưa, vì chùa thờ nữ thần Pháp Vũ (bà Đậu)
nên được nhân dân gọi là chùa Đậu, chùa còn có nhiều tên gọi khác là: Thành Đạo
Tự, Pháp Vũ Tự, Chùa Vua, Chùa Bà.. Theo văn bia để lại chùa được xây dựng từ
thời triều
nhà Lý, thế kỷ
thứ XI. Chùa được xây theo kiểu "nội
công ngoại quốc".
Tam quan chùa
là một gác chuông đẹp, hai tầng tám mái với các đầu đao cong vút. Nhiều bộ phận
gỗ được chạm khắc hình
rồng,
phượng và hoa
lá.
Đặc biệt là trong chùa còn có hai pho tượng của hai
nhà sư
Vũ Khắc Minh
và
Vũ Khắc Trường
đã tu ở chùa vào khoảng
XVII, được tạo
thành bằng cách bó sơn ta rồi quang dầu ra ngoài chính thi hài các nhà sư. Đầu
năm
1993,
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
đã được giao nhiệm vụ lập phương án thiết kế và thi công trùng tu hai pho tượng
này. Khi chiếu tia
X-quang, các
nhà nghiên cứu còn thấy rõ xương cốt bên trong thi hài và kết luận rằng: Không
có vết đục đẽo, không có hiện tượng hút
ruột, hút
óc và các khớp
xương dính
chặt với nhau như thể tự nhiên. Đây là hai vị Thiền sư đắc đạo tại chùa, để lại
toàn thân xá lợi. Xá lợi đốt không cháy, ngâm trong nước không tan.
Tượng nhục thân nhà sư Vũ Khắc Minh nặng 7 kg, chiều
cao ngồi 57cm. Qua vết nứt rộng 2mm ở đầu và mặt thấy trong cùng là xương sọ,
tiếp đến khoảng không rồi tới lớp bồi dày 2 - 4mm. Chất liệu bồi là đất gò mối
tơi mịn trộn sơn sống, mùn cưa, giấy bản. Phủ ngoài chất bồi này là một lớp sơn
ta mầu cánh dán dày 0,1mm. Hiện nay, đôi chỗ trên tượng hiện ra những lá bạc
mỏng phủ ngoài lớp sơn ta, còn ngoài cùng là một lượt quang dầu.
Chùa Đậu vốn đã huyền bí và mang trong mình những
giá trị tâm linh lớn lao từ hai vị thiền sư đắc đạo, nay càng trở nên hấp dẫn
hơn bởi kỳ tích khôi phục tượng táng của các nhà khoa học Việt Nam.
5. CHÙA
HƯƠNG
Địa chỉ: xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội
Chùa Hương hay Hương Sơn là một quần thể văn hóa -
tôn giáo Việt Nam, là một quần thể những danh lam thắng cảnh và di tích nằm trên
một dải núi chạy từ núi Hoàng Con trong dãy Hoàng Liên Sơn, vượt qua sông Đà,
núi Ba Vì, qua Chương Mỹ xuống mãi Nho Quan - Ninh Bình. Trong cụm danh thắng
Hương Sơn, bên cạnh các cảnh đẹp thiên tạo như suối Yến, động Hương Tích, động
Tiên Sơn, động Tuyết Quynh, suối Giải Oan... còn rất nhiều các công trình kiến
trúc nghệ thuật do bàn tay con người, qua các thời kỳ tạo nên, và đã trở thành
những di tích lịch sử rất có giá trị như đền Trình, chùa Thiên Trù, đền Cửa
Võng, Hương Sơn Tự...
Theo truyền thuyết, vùng núi có hang động này được
tìm thấy cách đây hơn 2000 năm và đã được đặt tên Hương Sơn - lấy tên một ngọn
núi ở phía Bắc Tuyết Sơn trong
dãy Himalaya (Ấn
Độ), nơi đức Phật đã ngồi tu khổ hạnh suốt 6 năm ròng rã.
Đời vua
Lê Thánh Tông
(1460
-
1497) đã có am
thờ Phật dựng trên mảnh đất chùa Thiên Trù. Theo sách "Hương Sơn Thiên Trù thiên
phú" thì chùa Hương được xây dựng từ đời
Lê Huy Tông,
niên hiệu Chính Hòa (1680
-
1705). Bia tại
chùa Thiên Trù có ghi rằng việc xây dựng nền đất, bậc đá và tôn tạo Kim Dung bảo
điện của chùa được thực hiện vào năm
1686.
Các ngôi chùa chính được xây dựng với quy mô lớn vào
khoảng cuối
thế kỷ XVII.
Cho đến đầu
thế kỷ XX,
trong khu vực này đã có hơn 100 ngôi chùa.
Giá trị nhất về mặt nghệ thuật
điêu khắc,
không những trong chùa Hương mà kể cả trong toàn bộ hệ thống chùa chiền ở Hương
Sơn là pho tượng
Phật Quan Âm
bằng
đá xanh tạc
vào
thời Tây Sơn.
Pho tượng bằng đá, có dáng người thon thon, mặt trái xoan, nét thanh tú, đầu đội
mũ Tì Lư (tức là mũ Bồ Tát) nhưng lại có búi tóc và tóc mai, sau lưng có hai món
tóc buông xuống. Tượng ngồi ở tư thế đặc biệt, tay phải cầm viên ngọc minh châu,
chân trái duỗi, đặt trên một bông sen nở, chân phải co, dưới chân cũng có một
bông sen. Theo bài ký khắc trên đá năm
1806 thì pho
tượng này được tạc năm
1793.
Trong động Hương Tích còn có quả chuông đồng cao
1,24m,
đường kính đáy 0,63m đúc năm Thịnh Đức thứ 3 (1655).
Chùa Hương là thắng cảnh có doanh thu lớn trong
ngành Du lịch. Hội chùa Hương Sơn là hội chùa kéo dài nhất ở
Việt Nam trong
suốt 3 tháng sau
Tết Nguyên đán.
6. CHÙA THẦY
Địa chỉ: Chùa Thầy nằm ở chân núi Sài Sơn, huyện
Quốc Oai, Hà Nội
Sài Sơn có tên Nôm là núi Thầy, nên chùa được gọi là
chùa Thầy, tương truyền được xây dựng từ thời Lý, nơi tu hành của Thiền sư Từ
Đạo Hạnh.
Ban đầu chùa Thầy chỉ là một am nhỏ gọi là Hương Hải
am, nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh trụ trì. Vua
Lý Nhân Tông
đã cho xây dựng lại gồm hai cụm chùa: chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) trên núi và chùa
Dưới (tức chùa Cả, tên chữ là Thiên Phúc Tự, theo thuyết phong thủy, chùa được
xây dựng trên thế đất hình con
rồng. Phía
trước chùa, bên trái là ngọn Long Đẩu, lưng chùa và bên phải dựa vào núi Sài
Sơn. Chùa quay mặt về hướng Nam, trước chùa, nằm giữa Sài Sơn và Long Đẩu là một
hồ rộng mang tên Long Chiểu hay Long Trì (ao Rồng). Sân có hàm rồng. Trước cửa
chùa có đầm Long Chiểu, giữa có thủy đình nơi thường diễn rối nước. Hai chiếc
cầu gỗ cổ kiểu “thượng gia hạ kiều” ba nhịp có mái che do Phùng Khắc Khoan (1528
- 1613) xây dựng năm 1602. Bên trái là cầu Nhật Tiên, trông vào đền Tam phủ, làm
trên một đảo nhỏ giữa ao. Bên phải là cầu Nguyệt Tiên, đi lên chùa Cao trên núi.
Cụm kiến trúc chính là chùa Cả gồm ba lớp nhà lớn,
dựng trên nền cao bó đá hộc xanh, đối diện với thủy đình. Lớp ngoài là nhà tiền
tế, lớp giữa thờ Phật, lớp trong cùng thờ Từ Đạo Hạnh, bộ mái đồ sộ, lớp ngói
mũi hài to bản và dày, bốn góc cong vút đặt trên bộ khung gồm 4 cột lớn và mười
hai cột nhỏ bằng gỗ quý kê trên tảng đá, liên kết với nhau bằng hệ thống xà
hoành. Khớp mộng vững chắc, xung quanh lắp ván bưng đố lụa với nhiều mảng trang
trí chạm hình rồng, lân, mây, lửa. Trong chùa có ba pho tượng diễn tả 3 kiếp của
Từ Đạo Hạnh. Chính giữa là tượng đã thành Phật, đội mũ hoa sen, tay chắp trước
ngực. Bên trái là tượng gỗ bạch đàn, chân có chốt khớp cử động được. Bên phải là
tượng sau khi đầu thai vào cung cấm trở thành vua Lý Thần Tông (1128 - 1138).
Trong chùa còn có tượng cha mẹ thiền sư; lưng ngai chạm trổ tinh xảo; có các
biểu tượng nho giáo (phủ việt, đầu rồng), Phật giáo (quả phúc) và Đạo giáo (sừng
tê ngọc báu) ghi rõ niên đại (1346). Hai bên chùa là hành lang thờ 18 vị La Hán.
Phía sau là gác chuông cổ tương truyền đúc từ thời Lý và lầu trống có trống lớn
đường kính 1,5m. Qua cầu Nguyệt Tiên lên núi là chùa Cao. Sau chùa là hang Thánh
Hóa. Từ chùa Cao theo lối mòn ven núi lên hang Cắc Cớ sau đó đến Thượng Chỉ,
phía sau là hang Bụt Mọc, có nhiều tảng đá lô nhô như tượng Phật. Trên Sài Sơn
có hang Gió, chợ Trời (phía trên chùa Cao) ngổn ngang những hòn đá hình bàn ghế,
kệ bày hàng... có phiến đá nhẵn gọi là bàn cờ tiên.
Như vậy, quanh núi Thầy, ngoài chùa Thầy còn có cả
một cụm kiến trúc
Phật giáo được
xây dựng trong những khoảng thời gian khác nhau.
Hội chùa Thầy diễn ra từ ngày mùng 5 đến ngày mùng 7
tháng Ba
Âm lịch hàng
năm. Trong ngày hội, nhiều
tăng ni từ các
nơi khác trong vùng cùng về đây dự lễ trong những bộ
cà-sa trang
trọng, tay cầm gậy hoa, miệng tụng kinh trong tiếng
mõ trầm đều.
Lễ cúng Phật và trai đàn - một diễn xướng có tính chất tôn giáo - được thực hiện
có sự phối hợp của các nhạc cụ dân tộc.
Hội chùa Thầy không chỉ có những nghi thức
tôn giáo. Ở
đây còn có trò múa rối nước mang đậm sắc thái dân gian mà ngày nay có tiếng vang
ở nhiều nước.
7. CHÙA TRĂM
GIAN
Địa chỉ: Thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện
Chương Mỹ, Hà Nội
Chùa Trăm Gian là ngôi
chùa nằm trên
một quả đồi cao khoảng 50 m, được lập từ đời
Lý Cao Tông,
niên hiệu Trinh Phù thứ 10 (1185).
Đến thời
nhà Trần, có
hòa thượng Bình An, quê ở Bối Khê tu ở đây, tương truyền là người có nhiều phép
lạ. Sau khi ông mất, dân làng xây tháp để giữ gìn hài cốt và tôn gọi là Đức
Thánh Bối. Ngôi chùa lớn với quy mô như hiện nay đã được trùng tu và xây dựng
thêm qua nhiều thời đại.
Chùa Trăm Gian là một quần thể kiến trúc độc đáo.
Theo cách tính cứ 4 góc cột là 1 gian thì chùa có cả thảy 104 gian, chia thành 3
cụm kiến trúc chính.
Cụm thứ nhất gồm 4 cột trụ và 2 quán, trước
đây là nơi đánh
cờ người trong
ngày hội, tiếp đó là nhà
Giá Ngự nhìn
ra mặt hồ sen, nơi đặt kiệu thánh để xem trò
múa rối nước.
Trèo qua mấy trăm bậc gạch xây là tới cụm thứ hai
gồm một toà gác chuông 2 tầng mái, có
lan can chạy
quây 4 mặt. Các ván bằng đều có chạm hình mây hoa. Tại đây treo một quả chuông
cao 1,1m, đường kính 0,6m, đúc năm
Cảnh Thịnh thứ
hai (1794).
Trên chuông có khắc một bài minh của
Phạm Huy Ích.
Qua gác chuông, leo 25 bậc đá xanh hình rồng mây, đến sân trên có kê một sập đá
hình chữ nhật.
Lại leo 9 bậc đá, hai bên có lan can chạm hình
rồng cuộn khúc
thì tới cụm thứ 3 đó là chùa chính, gồm nhà bái đường, toà thiêu hương và
thượng điện. Hai bên là 2 dãy
hành lang.
Trong cùng là nhà tổ, giữa lại có lầu trống bên trong treo một trống lớn, đường
kính 1 m và một khánh đồng dài 1,20 m, cao 0,60 m đúc năm
1749. Tại đây
có 153 pho tượng, hầu hết bằng gỗ, một số ít bằng đất nung, đặc biệt quý là
tượng Tuyết Sơn, tượng
Quan Thế Âm Bồ Tát.
Ở giữa thượng điện có một bệ bằng
đất nung đỏ
hình khối chữ nhật, giống kiểu các bệ
đá thời nhà
Trần. Trên bệ đá là đài sen, xung quanh trang trí nhiều hình động vật và hoa lá,
bốn góc có hình chim thần. Trên bệ đặt các tượng
Phật tam thế.
Trong chùa còn có nhiều bia, hoành phi, câu đối... Riêng có hai
câu đối khảm
trai, tương truyền có từ thời
nhà Hồ (1400
-
1406).
Hai bên là hai dãy hành lang. Trong cùng là nhà thờ
Tổ. Ở giữa còn có gác trống, treo một chiếc trống lớn và một khánh đồng đúc năm
Cảnh Hưng thứ
10 (1749).
Trong chùa có tượng đô đốc
Đặng Tiến Đông,
một tướng
nhà Tây Sơn,
chỉ huy đạo quân đánh vào phía Nam
Thăng Long.
Tượng này được phát hiện vào năm
1972. Ngoài ra
còn có tượng Đức Thánh Bối đặt trong khám gỗ gian bên phải. Đây là tượng cốt rút
bằng
mây đan ngoài
bọc vải sơn, tương truyền là tượng bỏ hài cốt của ông.
Chùa Trăm Gian là một ngôi chùa theo kiểu tiền phật
hậu thần, ngoài việc thờ phật, trong chùa còn đặt khám thờ Đức Thánh Bối Nguyễn
Bình An thể hiện sự giao thoa giữa tín ngưỡng dân tộc với phát triển của lịch
sử.
8. CHÙA TÂY
PHƯƠNG
Địa chỉ: núi Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện Thạch
Thất, Hà Nội.
Chùa Tây Phương ở núi Tây Phương, xã Thạch Xá, huyện
Thạch Thất. Theo các tài liệu để lại thì chùa xây từ đời Cao Biền (865 - 875),
vào niên hiệu Chính Hoà (1680 - 1705), Tây Vương Trịnh Tạc đi qua thấy cảnh trí
trang nghiêm, bèn truyền cho sửa chữa lại chùa và xây tam quan. Sau đó chùa bị
phá. Chùa Tây Phương còn đến nay đã được xây lại trên nền chùa cũ, vào khoảng
1788 - 1789 dưới triều Tây Sơn. Hiện trong chùa còn chuông đồng đúc năm Bính
Thìn 1796, năm Cảnh Thịnh thứ 4 và bài Minh do Phan Huy ích soạn khắc vào chuông
năm Mậu Ngọ (Cảnh Thịnh thứ 6).
Chùa Tây Phương xây 3 toà xếp thành hình chữ tam (三),
nhìn bề ngoài mỗi toà có 2 tầng, 8 mái và 8 đầu đao cong vút. Toà giữa hẹp nhưng
cao hơn toà thượng và hạ. Do xếp hình chữ tam, không nối liền mà mỗi toà cách
nhau một quãng nhất định, thềm toà nọ cách thềm toà kia là 1,6 m, nên nội thất
mỗi toà đều được chiếu sáng. Các toà nhà gạch trần theo hình cong và được chạm
trổ theo kiểu “bán âm, bán dương”, hay kiểu “sắc sắc không không” theo triết lý
nhà Phật. Phía trong chùa dựng theo lớp chồng giường thống nhất, chồng cột có xà
đỡ.
Nơi đây còn là nơi tập trung những kiệt tác hiếm có
của nghệ thuật điêu khắc tôn giáo bao gồm chạm trổ, phù điêu và tạc tượng. Khắp
chùa chỗ nào có gỗ là có chạm trổ. Các đầu bẩy, các bức cổn, xà nách, ván
long... đều có chạm trổ đề tài trang trí quen thuộc của dân tộc Việt: hình lá
dâu, lá đề, hoa sen, hoa cúc, rồng, phượng, hổ phù... rất tinh xảo.
Ðặc biệt chùa Tây Phương là nơi hội tụ những tác
phẩm xuất sắc của nghệ thuật điêu khắc dân tộc như chạm trổ, phù điêu và tạc
tượng. Chùa có tất cả 62 pho tượng lớn nhỏ có giá trị nghệ thuật cao như các pho
Tam Thế, A-di-đà, Tuyết Sơn, Di Lặc, Kim Cương, 18 vị La Hán, tượng Phật Bà Quân
Âm nghìn mắt nghìn tay (thế kỷ XIX). Chùa còn có quả chuông đúc năm Cảnh Thịnh
thứ 4 (1796) và nhiều bộ hương án quý.
Chùa Tây Phương là một di tích lịch sử có giá trị về
mặt nghệ thuật kiến trúc đồng thời là một thắng cảnh đẹp của Hà Nội.
9. CHÙA TRẦM
Địa chỉ: xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội.
Chùa Trầm được gọi tên theo tên ngọn núi mà chùa dựa
vào. Tương truyền ngày xưa ở trên đỉnh núi này có một cây trầm rất to, thân cây
nhiều người ôm không xuể, tỏa hương thơm khắp vùng. Sau này, dù cây không còn
nữa nhưng người ta vẫn gọi là núi Trầm hay núi Tử Trầm. Xưa kia toàn bộ khu núi
Trầm là nơi vua Lê, chúa Trịnh đặt hành cung.
Chùa Trầm được xây dựng năm
Ất Hợi (1515)
do Trần Văn Tăng, một tướng quân xuất gia giảng đạo, khởi xướng. Toàn bộ khu núi
Trầm này xưa kia cũng là nơi vua Lê, chúa Trịnh đặt hành cung và đã cho xây
nhiều công trình mà nay vẫn còn dấu tích. Chùa Trầm nhỏ, mang vẻ đẹp cổ kính.
Quần thể chùa gồm nhiều
thắng cảnh đẹp: Đền Mẫu nằm lưng chừng núi, hang Long Tiên có đường dẫn lên đỉnh
núi Trầm (tục gọi là đường lên trời), có hang sâu dẫn ngầm vào trong núi (tục
gọi là đường xuống âm phủ). Trong hang có tượng của các vị phật, tiên, hộ pháp
tạc bằng đá rất sinh động. Nơi đây còn lưu trữ những bài thơ cổ khắc trên vách
đá, khánh đá, chuông đồng ... được tạo tác qua các thời đại.
Hang Trầm còn được biết đến vì gắn với một sự kiện
lịch sử trong kháng chiến chống Pháp. Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn
quốc bùng nổ, thì 1 ngày sau, ngày 20/12, tại đây, Đài Tiếng nói Việt Nam đã
phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch. Hang Trầm là nơi ghi
dấu chân Người trong những ngày cách mạng hào hùng.
Đứng trên đỉnh núi Trầm có
thể nhìn thấy toàn cảnh vùng đất So Sở và các danh thắng kề cận như chùa Vô Vi,
chùa Trăm Gian ....
10. CHÙA MÍA
Địa chỉ: xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, Hà Nội
Chùa Mía thuộc làng Mía còn có tên chữ là Sùng
Nghiêm Tự. Xưa kia, vùng này là Cam Giá, tên Nôm là Mía, nên chùa này được quen
gọi là chùa Mía. Đây là ngôi chùa lưu giữ nhiều tượng nghệ thuật nhất Việt Nam.
Chùa Mía được xây dựng vào thời Trần. Đến thế kỷ
XVII, chùa đã bị đổ nát, hoang phế nhiều. Năm Đức Long thứ tư (năm 1632), bà
Nguyễn Thị Dong, vợ chúa Trịnh Tráng (1632 - 1657), được nhân dân tôn kính gọi
là Bà Chúa Mía, đứng ra hưng công để xây dựng lại. Chùa nằm trên một ngọn đồi đá
ong, có quy mô lớn, được tách ra làm ba khoảnh tách bạch. Phía ngoài cùng là gác
chuông, tiếp đó là mảnh sân, ở phía bên góc phải là một cây đa vài trăm tuổi,
tán lá sum suê che mát cả một khoảng rộng, tạo cho khu chùa Mía một cảnh yên
tĩnh mát mẻ và linh thiêng. Qua một cổng gạch là đến dãy nhà thụ trai (nơi ở của
các nhà sư). Tiếp đến là khu nhà chính gồm: Nhà bái đường, chùa hạ, chùa trong
và thượng điện. Lúc đầu chùa Mía chỉ có cổng và 2 tòa thượng điện, hậu đường,
mỗi tòa 7 gian dựng song song. Chùa được tu bổ và hoàn chỉnh dần vào
thế kỷ XVII và
thế kỷ XIX.
Gác chuông của chùa là ngôi nhà 3 gian làm theo kiểu
chồng diêm 2 tầng 8 mái. Các góc mái đều gắn đao triện. Sàn nhà bằng
gỗ, ở tầng gác
có hàng lan can tiện. Các ván long, xà nách đều được bào xoi cạnh và chạm trang
trí đề tài hoa lá. Trên gác treo một quả chuông đúc năm
Cảnh Hưng thứ
4 (1743)
và một khánh đồng đúc năm
Thiệu Trị thứ
6 (1864).
Chùa Mía khá nổi tiếng với 287 pho tượng lớn, nhỏ,
trong đó có 6 pho tượng
đồng, 106 pho
tượng gỗ và 174 pho tượng bằng đất luyện được sơn son thếp vàng. Ở chùa Trung có
2 pho tượng
Hộ Pháp lớn và
8 pho tượng
Kim Cương. Mỗi
pho tượng là hình tượng một võ tướng đang trong tư thế chuẩn bị chiến đấu để trừ
tà bảo vệ Phật pháp, hình khối, bố cục vững chắc, thân hình cân đối, đường nét
thoải mái và khỏe. Tại chùa Thượng, người ta còn thấy các động bằng đất đắp.
Trong và xung quanh các động có khá nhiều tượng. Trong một động có cả tượng
Phật Thích Ca
nhập
Niết bàn. Pho
tượng
Tuyết Sơn cao
0,76 m và
Quan Âm Tống Tử
cao 0,76 m ở đây cũng rất đẹp. Tượng Quan Âm thường được gọi là tượng Bà Thị
Kính, diễn tả một người phụ nữ thùy mị, có duyên, vẻ mặt hơi buồn nhưng rất hiền
từ nhân hậu, ẵm một đứa bé bụ bẫm kháu khỉnh, đường nét chạm khắc mềm mại, trau
truốt.
Với những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc
độc đáo, với quy mô bề thế và đẹp. Chùa Mía đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du
lịch xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật.
11. ĐỀN QUÁN
THÁNH
Địa chỉ: Cuối đường Thanh Niên, Q. Ba Đình, Hà
Nội
Đền Quán Thánh với kiến trúc cổ kính, uy nghi tạo
cho phía Nam hồ Tây một vẻ đẹp đặc sắc kinh kỳ. Khi dời đô về Thăng Long, năm
1010, vua Lý Thái Tổ đã chọn địa điểm này để xây đền thờ thánh Trấn Vũ - vị thần
trấn giữ phương Bắc. Vì thế, còn có tên là đền Trấn Võ, Quan Thánh Trấn Võ, hay
Quán Thánh. Đây cũng chính là một trong những ngôi đền nổi tiếng trong “Thăng
Long tứ trấn” của xứ Hà thành xưa.
Các bộ phận kiến trúc hiện thấy, là kết quả của lần
trùng tu lớn, hồi thế kỷ XIX, bao gồm: tam quan, sân, ba lớp nhà tiền đế, trung
đế, hậu cung. Ở đây có pho tượng bằng đồng đen đúc năm 1677 (năm Vĩnh Trị thứ 2
- vua Lê Hy Tông), thay cho bức tượng gỗ có từ trước đó. Tượng cao gần 4m, nặng
4 tấn, chu vi phần dưới 8m, tạc hình Huyền Thiên mặc áo đạo sĩ màu đen, chân
trần, cánh tay tròn vạm vỡ, ngón trỏ giơ lên ngực bắt quyết, tay phải chống gươm
trên lưng rùa. Tượng đứng trên bệ đá cao 1,5m. Ngoài giá trị nghệ thuật, tượng
Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo duy nhất tại
Việt Nam,
khẳng định nghệ thuật đúc
đồng và tạc
tượng của người Hà Nội cách đây 3
thế kỷ.
Ngoài nghệ thuật đúc đồng, đền Quán Thánh còn nổi
tiếng với vẻ đẹp của nghệ thuật chạm khắc gỗ. Trên các bộ phận kiến trúc bằng gỗ
của ngôi đền, các đề tài như tứ linh, dơi, cá, tùng, trúc, cúc, mai, lẵng hoa,
bầu rượu, thanh gươm, cảnh sinh hoạt của trần gian và thượng giới... được chạm
khắc một cách tinh xảo mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê.
Không chỉ là một công trình có giá trị về mặt lịch
sử và kiến trúc, đền Quán Thánh còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa nổi
tiếng của người dân Hà Nội xưa và nay. Trải qua gần 1 thiên niên kỷ nhưng ngôi
đền vẫn còn nguyên vẹn, duyên dáng bên hồ Tây thơ mộng và tồn tại trong
lòng người Hà Nội.
12. ĐỀN KIM
LIÊN
Địa chỉ: Phố Kim Hoa, Quận Đống Đa, Hà Nội
Đình và đền Kim Liên (hay còn gọi là đền Cao Sơn) là
trấn phía Nam trong
tứ trấn của
kinh thành
Thăng Long.
Đền Kim Liên vốn được lập để thờ
Cao Sơn Đại Vương
(theo tín ngưỡng dân gian, thì đây là một người con của
Lạc Long Quân
và
Âu Cơ, sau
theo mẹ lên núi). Theo tài liệu lưu giữ tại đền, thì đền được xây dựng dưới thời
vua
Lý Thái Tổ
ngay khi vị hoàng đế này rời đô tới Thăng Long, với mục đích để bảo vệ kinh
thành mới ở hướng Nam. Năm 1509, quân đội của
Lê Tương Dực
từ
Thanh Hóa tiến
về Thăng Long để lật đổ
Lê Uy Mục đã
đi qua đây, thấy đền thờ Cao Sơn Đại Vương liền vào xin phù hộ. Sau đó một tuần,
sự nghiệp của Lê Tương Dực thành công. Vị vua này liền cho xây lại đền Kim Liên
với kiến trúc như hiện nay.
Sau này, dân làng Kim Liên đã lập thêm
cổng tam quan
ở phía trước cổng đền ngay sát đầm Kim Liên và bổ sung thêm một số kiên trúc
mới, tạo thành
đình Kim Liên.
Ngoài Cao Sơn Đại Vương, trong đền và đình này còn thờ
Tam Phủ,
thờ Mẫu, và
thờ Chủ tịch
Hồ Chí Minh.
Kiến trúc của đình bao gồm 2 phần tương đối rõ: phần
phía trước gò có một cổng trụ biểu, hai dãy giải vũ hai bên sân gạch rộng và
phần kiến trúc chính của di tích nằm trên gò đất cao. Đi hết khoảng sân trên thì
qua 9 bậc gạch cao được xây bằng những viên gạch vồ có kích thước lớn thời
Lê Trung Hưng
nối 2 bộ phận kiến trúc trên.
Đình chính gồm
nghi môn,
đại bái và
cung cấm. Nghi
môn là một nếp nhà 3 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc. Bốn bộ vì đỡ mái được làm
theo kiểu chồng rường giá chiêng, cột trốn. Trên các bộ phận kiến trúc các họa
tiết trang trí được thể hiện sinh động, công phu mang phong cách nghệ thuật thời
Nguyễn. Nhà đại bái gồm 5 gian mới được thành phố tôn tạo trong dịp kỷ niệm 990
năm Thăng Long - Hà Nội, với kiểu dáng kiến trúc truyền thống. Hậu cung là một
nếp nhà 3 gian dọc, xây gạch trần, mái lợp
ngói ta. Trong
nhà xây vòm cuốn, nội thất được bố trí như sau: gian ngoài cùng, bó bệ gạch cao
để đặt hương án; gian thứ hai xây bệ gạch cao để đặt long ngai và các đồ tế khí.
Gian cuối cùng là nơi thờ Cao Sơn Đại Vương và hai nữ thần phối hưởng (Tôn nữ
Động Hồ Trưng Vương - công chúa con gái vua Lê và Huệ Minh công chúa).
Di vật quan trọng nhất tại đình Kim Liên là tấm bia
đá "Cao sơn Đại Vương thần từ bi minh" do sử thần Lê Tung soạn năm 1510 nói về
công lao của thần Cao Sơn trong việc ngầm giúp
vua Lê giành
lại ngai vàng từ tay ngoại thích và hệ thống 39 đạo sắc phong cho thần Cao Sơn
Đại Vương, trong đó có 26 đạo thời Lê Trung Hưng, 13 đạo thời
nhà Nguyễn,
sớm nhất trong số đó là
sắc phong có
niên đại Vĩnh Tộ năm thứ hai (1620).
Hội đền và đình Kim Liên được tổ chức vào ngày 16
tháng Ba
Âm lịch hàng
năm.
13. ĐỀN VOI
PHỤC
Địa chỉ: Nằm cạnh Công viên Thủ Lệ, Quận Ba Đình,
Hà Nội
Đền Voi Phục được dựng trên đất làng Thủ Lệ xưa, là
trấn phía Tây trong
tứ trấn của
kinh thành Thăng Long. Sở dĩ gọi là đền Voi Phục vì tại cửa đền có đắp 2 con voi
quỳ ngay ở cổng đi vào. Đền còn có tên là đền Thủ Lệ hoặc Linh Lang do thờ thần
Linh Lang Đại Vương.
Xây dựng từ đời Lý Thái Tông (1028 - 1054) bên một
hồ rộng có tên là Linh Lang, đền thờ Linh Lang Đại Vương, tương truyền đây có
thể là hoàng tử Hoằng Chân con vua Lý Thái Tông do một bà phi người làng Bồng
Lai (Đan Phượng) sinh ra ở Trị Chợ, Thủ Lệ. Hoàng tử đã tham gia trận đánh quân
Tống xâm lược trên phòng tuyến sông Cầu và hi sinh tại đó. Còn thần tích kể
rằng: Cảo Nương là một cung phi của vua Lý ra tắm ở hồ Tây bị rồng cuốn lấy
người, về có mang sinh ra hoàng tử trên mình có 28 vết vảy rồng và 7 hàng chấm
sáng long lanh như ngọc trên ngực. Lớn lên Linh Lang xin đi cầm quân, đánh thắng
quân Tống. Vua muốn nhường ngôi cho nhưng chàng từ chối, về ở Trại Chợ, sau bị
bệnh từ trần hóa thành con rồng đem cuốn quanh phiến đá rồi đi xuống hồ Tây biến
mất. Vua bèn cho lập đền thờ ở ngay nơi ở của hoàng tử.
Thần Linh Lang đã bị bao phủ
bởi một tấm màn huyền tích dày đặc, nhưng lần dở lại những trang sử có thể thấy
thần Linh Lang là một nhân vật lịch sử có thật, đó là 2 hoàng tử nhà Lý đã theo
Lý Thường Kiệt chống quân xâm lược Tống bên bờ sông Như Nguyệt và đã hy sinh. Và
đền Linh Lang được lập để nghi nhớ công lao của 2 người anh hùng chống giặc
ngoại xâm được nhân dân linh hóa thành thần Linh Lang biến thành giao long bò
xuống nước và biến mất.
Trải qua những biến thiên
của lịch sử và nhiều lần trùng tu nay đền không còn hình dáng cũ. Đầu năm 1994,
nhân dân Thủ Lệ đã quyên góp đúc lại quả chuông chiều cao 93cm, đường kính miệng
70cm, thân chia 4 múi, mỗi múi có 2 hàng chữ Hán đúc nổi "Tây trấn thượng đẳng".
Lễ hội đền Voi phục được tổ chức vào khoảng ngày 9 - 11/2 Âm lịch. Đây là hội
rước lớn với cờ quạt, chiêng trống, lọng, tàn, tán nối nhau thành hàng dài cùng
phường bát âm và đội sênh tiền rất nhộn nhịp.
14. ĐỀN BẠCH
MÃ
Địa chỉ: 76 Hàng Buồm, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Được xây dựng trước khi có kinh thành Thăng Long,
đền Bạch Mã nằm ở hướng chính Đông, là một trong tứ trấn của kinh thành Thăng
Long xưa. Xưa kia nơi đền Bạch Mã tọa lạc thuộc địa dư phường Hà Khẩu, tổng Đông
Thọ, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức.
Đền thờ thần Long Đỗ tức Bạch Mã, vị thần bảo hộ
kinh thành Thăng Long. Theo truyền thuyết, khi vua Lý Công Uẩn định đô Thăng
Long (1010), xây thành mà cứ bị sụt lở, ông tới đây cầu lễ và lạ thay, một buổi
sáng chợt thấy có con ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy vòng quanh khu vực
đang xây thành, chạy đến đâu để dấu chân đến đấy rồi trở lại đền và vụt biến.
Vua Lý cứ theo vết chân ngựa mà xây, thành không lở nữa. Vua bèn phong thần Long
Đỗ làm Thành hoàng bảo vệ cho Thăng Long. Từ đó thần có thêm tên là Bạch Mã.
Hiện tại ngôi đền có qui mô kiến trúc lớn gồm có
nghi môn,
phương đình,
đại bái, thiêu
hương, cung cấm và nhà hội đồng ở phía sau. Các hạng mục này được bố trí theo
chiều dọc, trong một không gian khép kín. Kiến trúc đền còn lưu lại hiện nay chủ
yếu mang phong cách nghệ thuật
thời Nguyễn
(thế kỷ XIX). Nổi bật trong kết cấu kiến trúc của đền là toàn bộ khung nhà gỗ
với hệ thống cột gỗ
lim lớn, các
bộ vì đỡ mái được làm kiểu "giá chiêng chồng rường con nhị", đặc biệt là "hệ
củng 3 phương" tại nhà phương đình vừa có tác dụng chịu lực, vừa là tác phẩm
nghệ thuật và sử dụng để treo đèn trong các ngày lễ hội và kết cấu "vòm vỏ cua"
đỡ mái hiên nhà thiêu hương. Trên các cốn gỗ, xà lách, xà ngang, các vì chồng
rường đều có nhiều mảng trang trí với các đề tài phong phú và nét chạm chắc,
khỏe.
Hiện nay đền vẫn giữ nguyên cấu trúc, nhưng được sắp
xếp lại theo cấu trúc “tam nguyên đồng hoá” tức là thêm điện thờ Phật và Mẫu,
được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc
gia vào năm 1986. Đến nay, đền còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị như:
bia đá,
sắc phong,
kiệu thờ, hạc thờ, đôi phỗng, Cùng với các giá trị về kiến trúc nghệ thuật, di
tích đền Bạch Mã là một nguồn tư liệu quí để nghiên cứu, tìm hiểu Thăng Long-Hà
Nội về nhiều mặt.
Lễ hội đền hằng năm vào tháng Hai Âm lịch, trước đây
có tổ chức lễ đánh trâu rước xuân. Có hơn 1000 năm lịch sử, đền Bạch Mã là một
trong những di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của thủ đô Hà Nội.
15.
ĐỀN NGỌC SƠN
Địa chỉ: Đường Đinh Tiên Hoàng, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Đền Ngọc Sơn là một ngôi đền thờ nằm trên đảo Ngọc
của hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Đền được xây dựng từ thế kỷ XIX. Lúc đầu được gọi là chùa Ngọc Sơn, sau đổi gọi
là đền Ngọc Sơn vì trong đền chỉ thờ thần Văn Xương là ngôi sao chủ việc văn
chương khoa cử và thờ Trần Hưng Đạo, vị anh hùng có công phá quân Nguyên thế kỷ
XIII.
Khi vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đặt tên đền
là Ngọc Tượng, đến đời nhà Trần đổi tên là Ngọc Sơn. Tại đây đã có một ngôi đền
dựng lên để thờ những người anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong kháng chiến chống
Mông Nguyên. Về sau lâu ngày đền ấy sụp đổ, đến thời Vĩnh Hựu nhà Lê (1735 -
1739), chúa Trịnh Giang đã dựng cung Thuỵ Khánh và đắp hai quả núi đất ở trên bờ
phía Đông đối diện với Ngọc Sơn gọi là núi Đào Tai và Ngọc Bội. Cuối đời nhà Lê,
cung Thuỵ Khánh bị Lê Chiêu Thống phá huỷ. Một nhà từ thiện tên là Tín Trai,
nhân nền cung cũ đã lập ra một ngôi chùa gọi là chùa Ngọc Sơn.
Năm Tự Đức thứ mười tám (1865), nhà nho Nguyễn Văn
Siêu đứng ra tu sửa lại đền. Đền mới sửa đắp thêm đất và xây kè đá xung quanh,
xây đình Trấn Ba, bắc một cầu từ bờ Đông đi vào gọi là cầu Thê Húc.
Trên núi Ngọc Bội cũ, nhà nho Nguyễn Văn Siêu cho
xây một tháp đá, đỉnh tháp hình ngọn bút lông, thân tháp có khắc ba chữ "Tả
Thanh Thiên" (viết lên trời xanh), ngày nay thường gọi đó là Tháp Bút. Tiếp đến
là một cửa cuốn gọi là Đài Nghiên, trên có đặt một cái nghiên mực bằng đá hình
nửa quả đào bổ đôi theo chiều dọc, có hình ba con ếch đội. Trên nghiên có khắc
một bài minh nói về công dụng của cái nghiên mực xét về phương diện triết học.
Người đời sau ca ngợi là: "Nhất đài Phương Đình bút". Từ cổng ngoài đi vào có
hai bức tường hai bên, một bên là bảng rồng, một bên là bảng hổ, tượng trưng cho
hai bảng cao quý nêu tên những người thi đỗ, khiến cho các sĩ tử đi qua càng
gắng công học hành.
Tên cầu Thê Húc nghĩa là “giữ lại ánh sáng đẹp của
mặt trời”. Cầu Thê Húc dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, còn gọi là Đắc Nguyệt Lâu (lầu
được trăng) dưới bóng cây đa cổ thụ, ở giữa một vùng cây cối um tùm, trông như
từ dưới nước nhô lên. Đền chính gồm hai ngôi nối liền nhau, ngôi đền thứ nhất về
phía Bắc thờ Trần Hưng Đạo và Văn Xương. Tượng đặt ở hậu cung trên bệ đá cao
khoảng 1m, hai bên có hai cầu thang bằng đá. Tượng Văn Xương đứng, tay cầm bút.
Phía Namcó đình Trấn Ba (đình chắn sóng - ngụ ý là cột trụ đứng vững giữa làn
sóng không lành mạnh trong nền văn hoá đương thời). Đình hình vuông có tám mái,
mái hai tầng có 8 cột chống đỡ, bốn cột ngoài bằng đá, bốn cột trong bằng gỗ.
Các nhân vật được thờ trong đền ngoài Văn Xương Đế
Quân, Lã Động Tân, Quan Vân Trường, Trần Hưng Đạo, còn thờ cả Phật A-di-đà. Điều
này thể hiện quan niệm Tam giáo đồng nguyên của người Việt nam.
Tuy là một ngôi đền kiến trúc mới, song đền Ngọc Sơn
là một điển hình về không gian và tạo tác kiến trúc. Sự kết hợp giữa đền và hồ
đã tạo thành một tổng thể kiến trúc Thiên - Nhân hợp nhất, tạo vẻ đẹp cổ kính,
hài hoà, đăng đối cho đền và hồ, gợi nên những cảm giác chan hoà giữa con người
và thiên nhiên.
16. ĐỀN THỜ
HAI BÀ TRƯNG
Địa chỉ: Thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh,
Hà Nội
Theo chính sử, Hai Bà Trưng quê ở làng Hạ Lôi, xã Mê
Linh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, cha là quan Lạc tướng huyện Mê Linh nhưng
mất sớm, mẹ là bà Nguyễn Thị Đoan (tên tục gọi là bà Man Thiện). Tương truyền,
làng quê có nghề trồng dâu nuôi tằm, hai bà là chị em sinh đôi, bà chị có tên
là Trưng Trắc, em gái có tên Trưng Nhị. Hai bà được mẹ mời thầy giỏi trực tiếp
dậy bảo nên khi lớn đều văn võ song toàn, có lòng thương dân và ý chí tự lập.
Năm mười chín tuổi, bà Trưng Trắc kết hôn với ông Thi Sách, con quan Lạc tướng
thành Chu Diên (vùng Sơn Tây ngày nay) cũng là người có ý chí chống giặc Hán đô
hộ. Một năm sau, ông Thi Sách bị viên quan Thái Thú nhà Hán là Tô Định giết. Căm
thù giặc cướp nước, hận kẻ thù giết chồng, ngày 6 tháng Giêng năm Canh Tý (40
sau CN), được mẹ và thầy học cổ vũ, giúp đỡ, bà Trưng Trắc cùng em gái Trưng Nhị
dựng cở khởi nghĩa, quân dân trong vùng theo về rất đông tụ nghĩa dưới cờ. Trước
lễ xuất quân, dưới ngọn cờ đào, bà Trưng tuốt gươm thề cùng trời đất, lời thề
như lời hịch đầy hào khí, suốt hai ngàn năm sử sách và dân gian vẫn còn lưu giữ
và truyền tụng…
Để tưởng nhớ công đức của Hai Bà, nhân dân Vĩnh Phúc
đã lập đền thờ tại thôn Hạ Lôi, xã Mê linh, huyện Mê Linh, hàng năm tổ chức lễ
hội tưởng nhớ công đức của Hai Bà và các tướng lĩnh vào ngày mùng 6 tháng Giêng.
Đền thờ Hai Bà toạ trên một khu đất cao thoáng đãng. Theo thuyết phong thuỷ: Đền
toạ lạc trên thế đất "Trán con voi trắng" trong hình cao “Bạch tượng uyên
hồ” (voi trắng uống nước trong hồ), đến tận bây giờ vẫn còn vết tích của
những nơi như ao Mắt Voi, vòi voi và hồ Ao bàng; phía trước là đường kéo quân
của Hai Bà Trưng xưa kia chạy vòng phía trước Đền. Sau đền là khu vực thành cổ
gồm 2 lớp: trong là thành, ngoài là quách, dân gian gọi là Thành Ống.
Đền thờ Hai Bà Trưng hiện nay có các công trình: Tam
quan, nhà tiền tế, nhà trung tế và hậu cung. Phía ngoài hậu cung có cây Lụa già,
là hộp thư bí mật, tại đây những năm 1943- 1944, đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí
thư Đảng đã lấy đền thờ Hai Bà Trưng làm một trong những nơi hội họp bí mật để
chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở thủ đô Hà Nội ngày 19/8/1945.
Đền thờ Hai Bà Trưng là di tích lịch sử cách mạng
đặc biệt quan trọng, được Nhà nước xếp hạng là di tích cấp quốc gia năm 1980.
17. ĐỀN
GIÓNG
Địa chỉ: Xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội
Khu di
tích lịch sử đền Sóc, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội là nơi thờ
Thánh Gióng cùng quần thể các đền thờ Phật và các vị thần. Đền
thờ
Thánh Gióng,
một vị thánh có công đánh đuổi
giặc Ân sang
xâm lược nước
Văn Lang vào
đời
vua Hùng Vương
thứ 6. Sau khi đánh đuổi quân xâm lược ông đã phi ngựa đến chân núi Sóc Sơn,
ghìm cương, cởi giáp và nón treo lên một cành cây, rồi quay chào bốn phía quê
hương. Cả người lẫn ngựa từ từ bay thẳng lên trời, từ bấy đến giờ không còn thấy
trở về dân gian. Từ đó hàng năm người dân tổ chức hội đền Sóc Sơn vào ngày mồng
6 tháng Giêng âm lịch. Dưới chân núi, ở dốc Mã và làng Mã có rất nhiều ao chuôm,
người ta bảo đó là dấu chân ngựa của Thánh Gióng, khi về đến đây ngài xoay ngựa
khắp bốn phía. Ngựa hí vang trời rồi mới nhún mạnh bốn vó phóng lên trời.
Nhân dân trong xã cho biết: Trước kia đền quay về
hướng Đông, tới đời Lê mới xoay về hướng Bắc với lý do “giặc thường từ hướng đó
đến”, biểu lộ ý thức cảnh giác cao của cha ông ta trong truyền thống đánh giặc
giữ nước.
Hội đền ngay ở gần quốc lộ 3, có núi cao, rừng
thông, hồ rộng tạo nên cảnh quan du lịch hấp dẫn không chỉ với du khách trong
nước mà thu hút sự quan tâm, thích thú của đông đảo khách nước ngoài.
18.
ĐỀN VÀ
Địa chỉ: xã Trung Hưng, Sơn Tây, Hà Nội
Đền Và còn gọi là Đông Cung thờ Đức thánh Tản Viên
trong hệ thống
tứ cung của
xứ Đoài (Bắc
Cung thuộc xã Tam Hồng, huyện
Vĩnh Lạc,
Vĩnh Phúc; Nam
Cung thuộc xã Tản Lĩnh, Tây Cung thuộc xã Minh Quang, huyện
Ba Vì,
Hà Nội) thờ
thần núi Tản Viên, vị thần đứng đầu trong
tứ bất tử của
tín ngưỡng dân gian
Việt Nam.
Xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII, đền Và có quy mô
khá lớn với nghi môn, tả - hữu mạc, hậu cung... tạo thành một quần thể kiến trúc
theo kiểu cung đình. Ngoài thánh Tản Viên, đền còn thờ đức quốc mẫu - mẹ thánh
Tản Viên và hai anh em Cao Sơn, Quý Minh - tướng của đức Tản Viên.
Đền Và nằm giữa đồi Và, một đồi cây có diện tích
khoảng 17.500 m² trồng nhiều cây
lim cổ thụ,
ngoài ra còn có
mít,
thông,
đại,
muỗm…. Trong
đền trồng cây vóc vàng và hai bên nhà tiền tế có hai cây lan cao to, đây đều là
những loài nở hoa về mùa hè. Theo thuyết
phong thuỷ,
khu đồi có hình dáng con
rùa (Kim Quy)
đang bơi về phía mặt trời mọc. Khu vực kiến trúc rộng khoảng 2.000 m² được bao ở
hai bên và phía sau bởi tường thành bằng đá ong cao 2m15. Tường được xây hai
lớp, theo cách thức thượng thu hạ thách, chính giữ lèn đất. Trong dân gian lưu
truyền rằng, đá ong xây tường được lấy ở đồi Vông, thôn Vân Gia, còn gọi là "xóm
Rắn" nên có câu thành ngữ "cấu cổ con xà, đè cổ con quy".
Đền Và đang lưu giữ 5 bản thần tích "Tản Viên Sơn
Thánh"; 18 đạo sắc phong của các đời vua, trong đó có 17 bản chính có dấu ấn; 47
đôi câu đối được chạm khắc, viết trên vách cột, trên gỗ và 18 bức hoành phi viết
trên gỗ hoặc đá. Nơi đây còn có 2 bia đá, 3 chuông đồng, 4 tấm biển gỗ. Trên
những hiện vật đó khắc ghi thời gian xây dựng, tu sửa, ca ngợi cảnh quan, uy
linh của Thánh Tản Viên với nhiều nét trang trí có giá trị mỹ thuật cao vừa thể
hiện nét văn hóa tâm linh. Các bản thần tích, sắc phong, văn bia đền Và rất giàu
giá trị Hán - Nôm, trong đó có văn thơ của
Nguyễn Khản,
Nguyễn Thiện Kế,
Trần Lê Nhân...
Vị thần được thờ phụng ở đền Và là Thánh Tản Viên,
đứng đầu trong
tứ bất tử và
là "Thượng đẳng tối linh thần", "Đệ nhất phúc thần", "Nam thiên thần tổ" ... "là
người anh hùng văn hoá sáng tạo trong tư duy nông nghiệp, người anh hùng trị
thuỷ, chống giặc, biểu tượng của khối đoàn kết bộ tộc, khi chết Tản Viên là phúc
thần trừ tai hoạ cho dân". Từ thời
Hậu Lê, nơi có
đền Và là lỵ sở của huyện Tùng Thiện cũ, đền Và trở thành trung tâm tín ngưỡng
hàng huyện nên người dân quan niệm ở đó thiêng hơn những nơi khác cũng thờ Thánh
Tản Viên.
Lễ hội đền Và diễn ra "xuân thu nhị kỳ". Hội mùa
xuân vào dịp Rằm tháng Giêng kéo dài từ khoảng 13 đến 15 (Âm
lịch) với nghi lễ trung tâm là rước long ngai bài vị "Tam vị Đức
Thánh Tản" từ đền Và qua
sông Hồng sang
tả ngạn ở
đền Dội (xã
Vĩnh Linh, huyện
Vĩnh Tường,
Vĩnh Phúc) là
nơi theo truyền thuyết Thánh Tản Viên đã tắm để tế lễ diễn lại sự tích này rồi
quay trở lại đền Và. Cứ vào các năm
Tý,
Ngọ,
Mão,
Dậu thì hội
Rằm tháng Giêng được tổ chức lớn hơn gọi là hội chính. Hội mùa thu tổ chức vào
Rằm tháng Chín, từ 14 đến 15 (Âm
lịch) với nghi thức chính là đánh bắt cá ở
sông Tích để
chọn ra 99 con cá trắng to chế biến thành các món tế Thánh. Việc tế cá xuất phát
từ truyền thuyết Thánh Tản Viên dạy dân kéo vó và bắt được 100 con cá, sau đó
ngài phóng sinh một con cá trê đang có mang, về sau con cá này sinh được 9 con,
đều hoá đá, đầu chầu về hướng đền Và.
Lễ hội Đền Và là một trong những lễ hội lớn của vùng
Sơn Tây - Ba Vì, trong hội có lễ rước kiệu thánh từ Đông Cung lên đền thờ Thánh
Tản trên núi Ba Vì, tục đánh cá và lễ tắm tượng... Đền Và được xếp hạng là di
tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia năm
1964.
19. PHỦ TÂY
HỒ
Địa chỉ: Phường Quảng An, Quận Tây Hồ, Hà Nội
Phủ Tây Hồ nằm trên một bán đảo nhô ra giữa
Hồ Tây, trước
là một làng cổ của kinh thành Thăng Long nằm ở phía Đông của Hồ Tây. Phủ Tây Hồ
hay gọi phủ Mẫu Tây Hồ thờ bà Chúa Liễu Hạnh - một trong những đại diện đạo Mẫu
ở Việt Nam là một trong tứ bất tử của Việt Nam (Sơn Tinh, Thánh Gióng, Chử Đồng
Tử, Liễu Hạnh). Tục truyền rằng: bà là Quỳnh Hoa - con gái thứ hai của Ngọc
Hoàng, bị đày xuống trần gian vì tội làm vỡ cái ly ngọc quý. Xuống hạ giới, nàng
chu du, khám phá khắp mọi miền, qua đảo Tây Hồ dừng lại, phát hiện ra đây là nơi
địa linh sơn thủy hữu tình, bèn lưu lại mở quán nước làm cớ vui thú văn chương
giữa thiên nhiên huyền diệu.
Như tiền duyên xui khiến, Trạng nguyên Phùng Khắc
Khoan trong lần đi thuyền dạo chơi trên hồ, thấy cảnh đẹp, bèn ghé vào quán Tiên
chúa. Tâm đầu ý hợp, họ cùng vịnh bài thơ “Tây Hồ ngự quán” mà nay vẫn còn lưu
truyền. Tiên chúa ở đây trong bao lâu không ai biết, chỉ biết khi Phùng Khắc
Khoan trở lại tìm thì không còn. Để nguôi ngoai nỗi nhớ, ông cho lập đền thờ
người tri âm.
Phủ Tây Hồ nơi người Hà Nội hay đi lễ vào các ngày
mùng một, ngày rằm. Hàng năm vào rằm tháng riêng âm lịch, khách hành hương về
đây rất đông, vừa đi lễ Mẫu ban cho điều lành và mọi sự may mắn, vừa đi thưởng
ngoạn cảnh đẹp Hồ Tây và địa danh khác của
Hà Nội.
Phủ Tây Hồ còn gắn liền với truyền thuyết về Kim
Ngưu (Trâu Vàng) và ở Phủ Tây Hồ cũng dựng một đền thờ là đền Kim Ngưu để thờ
thần Trâu Vàng.
CÁC
ĐỊA DANH
1. LĂNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ
MINH
Địa chỉ: Quảng Trường Ba Đình, Hà Nội
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi đặt thi hài của Chủ
tịch
Hồ Chí Minh.
Lăng Chủ tịch
Hồ Chí Minh được chính thức khởi công ngày
2 tháng 9 năm
1973, tại vị
trí của lễ đài cũ giữa
Quảng trường Ba Đình,
nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chủ trì các cuộc mít tinh lớn.
Lăng được khánh thành vào ngày
29 tháng 8 năm
1975. Lăng gồm
3 lớp với chiều cao 21,6 m, lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp, lớp giữa là kết
cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, những cầu thang lên
xuống. Cát được lấy từ suối
Kim Bôi, tỉnh
Hòa Bình do
người dân tộc
Mường đem về;
quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng
đá hoa cương,
lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp, đá cuội được chuyển từ các con suối vùng
Sơn Dương, Chiêm Hoá, Ngòi Thìa, Tuyên Quang...; nhân dân dọc
dãy Trường Sơn
còn gửi ra 16 loại gỗ quí. Các loài cây từ khắp các miền được mang về đây như:
cây chò nâu ở
Đền Hùng, hoa
ban ở
Điện Biên-Lai
Châu, tre từ
Cao Bằng...
Thanh thiếu niên còn tổ chức buổi tham gia lao động trong việc mài đá, nhổ cỏ,
trồng cây.
Trên đỉnh lăng là hàng chữ "Chủ tịch Hồ Chí Minh"
ghép bằng đá ngọc màu đỏ thẫm. Cửa lăng làm từ các cây gỗ quý
Tây Nguyên.
Tiền sảnh có dòng chữ "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do" và chữ ký của Chủ tịch
Hồ Chí Minh được dát bằng vàng. Hai bên cửa là hai cây
hoa đại. Phía
trước và phía sau lăng trồng 79
cây vạn tuế
tượng trưng cho 79 năm trong cuộc đời của Hồ Chủ tịch. Hai bên phía Nam và Bắc
của lăng là hai rặng
tre, loại cây
biểu tượng cho nước Việt Nam. Trước cửa lăng luôn có hai người lính đứng gác, 1
giờ đổi gác một lần.
Chính giữa lăng là thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt
trong hòm kính khung bằng gỗ quý, điêu khắc hoa văn các đám mây, đặt trên một
bục đá. Qua lớp kính trong suốt, thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm trong bộ quần
áo ka ki bạc màu, dưới chân có đặt một đôi dép cao su. Trong những dịp có người
viếng lăng, sẽ có bốn tiểu binh đứng gác.
Lăng hình vuông, mỗi cạnh 30 m, cửa hướng về
phía Đông, hai
phía Nam và Bắc có hai lễ đài dài 65 m dành cho khách trong những dịp lễ lớn.
Trước lăng là Quảng trường Ba Đình với một đường dành cho lễ diễu binh, duyệt
binh, và một thảm cỏ dài xanh tươi suốt bốn mùa. Phía trước lăng là cột cờ, lá
Quốc kỳ được
kéo lên vào lúc 6 giờ sáng và hạ xuống lúc 9 giờ tối hàng ngày. Thẳng tiếp qua
sân cỏ là đường Bắc Sơn, có trồng hoa hồng đỏ và hoa đào. Tận cùng đường Bắc Sơn
là Đài Liệt sỹ.
Bên phía Tây của quảng trường là khu lưu niệm Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Tại đây có
Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh,
ngôi
nhà sàn Bác
Hồ.
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một công trình có ý
nghĩa chính trị và tư tưởng to lớn, thể hiện tình cảm sâu sắc của dân tộc Việt
Nam đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu.
2.
NHÀ SÀN BÁC HỒ
Địa chỉ: Nằm trong khuôn viên Phủ Chủ tịch, thuộc
quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Nằm trong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, ngôi nhà
sàn Bác Hồ nằm nhỏ nhắn bình dị giữa những vòm cây, đường vào nhà rải sỏi, hai
bên là hàng cây xoài, hàng rào dâm bụt bao quanh nhà, cổng vào kết bằng cành cây
đan xen nhau. Đó là ngôi nhà Bác Hồ ở và làm việc từ ngày 17/5/1958 cho tới khi
Người qua đời.
Tầng dưới nhà sàn là nơi Bác thường họp với Bộ Chính
trị. Tầng trên là hai phòng nhỏ, nơi Bác làm việc và phòng ngủ với những vật
dụng đơn sơ, giản dị. Trước nhà là ao cá Bác nuôi, bên bờ ao là các loài hoa
phong lan nở quanh năm.
Sau nhà là vườn quả với hàng trăm loài cây quý do
các địa phương đưa về trồng, như cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi biếu Bác
năm 1954, bưởi Phúc Trạch, Biên Hòa, Mê Linh; cam Hải Hưng, Xuân Mai, Vân Du, Xã
Đoài; quýt Hương Cần, Lý Nhân; táo Thiện Phiến, Ngọc Hồ; song mai Đông Mỹ; hồng
Tiên Điền - Hà Tĩnh (quê hương nhà thơ Nguyễn Du). Trong vườn còn có những loại
cây từ nước ngoài như ngàn hoa, cây bụt mọc quanh ao, cây cau vua gốc từ
Caribê...
Theo ý Bác, mùa hè năm 1958, Cục Thiết kế cơ bản
thuộc Tổng cục Hậu cần đã thi công ngôi nhà này. Kiến trúc sư là ông Nguyễn Văn
Ninh, Cục trưởng Cục Thiết kế Dân dụng, Bộ Kiến trúc (nay là Công ty Tư vấn xây
dựng, Bộ xây dựng). Ông Ninh là 1 trong 8 người Việt Nam học kiến trúc khóa đầu
tiên ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Chính ông là người thiết kế lễ đài
Ba Đình đón Bác và Trung ương Đảng, Chính phủ trở về thủ đô, ngày 1/1/1955.
Nhân dân từ mọi miền đất nước cũng như du khách quốc
tế đến thủ đô Hà Nội, ai cũng muốn đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thăm nhà ở
của Bác và đi dạo quanh Quảng trường Ba Đình lịch sử.
3.
QUẢNG TRƯỜNG BA ĐÌNH
Địa chỉ: Đường Hùng Vương, Quận Ba Đình, Hà Nội.
Quảng trường Ba Đình là
quảng trường
lớn nhất
Việt Nam, mang
nhiều dấu ấn lịch sử trong truyền thống dân tộc Việt Nam. Ngày
2 tháng 9 năm
1945, tại đây
Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã
đọc bản
Tuyên ngôn Độc
lấp khai sinh ra nước
Việt Nam Dân Chủ cộng hòa.
Đây là nơi diễn ra các cuộc diễu hành nhân dịp các ngày lễ lớn của Việt Nam, và
cũng là nơi vui chơi, dạo mát của người dân thủ đô
Hà Nội. Chữ Ba
Đình là để gợi nhớ dải đất Ba Đình ở tỉnh
Thanh Hoá, nơi
đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống
Pháp kéo dài
từ tháng 9/1886 đến tháng 1/1887.
Nơi đây vốn là khu vực cửa Tây của thành Hà Nội cổ.
Đầu thời Pháp thuộc, thực dân phá thành, làm một vườn hoa nhỏ gọi là điểm tròn
Puginier. Nǎm 1945 mới có tên là vườn hoa Ba Đình.
Mặt chính của quảng trường - mặt Tây - là lǎng Hồ
Chủ tịch. Trước lǎng là quảng trường với thảm cỏ bốn mùa xanh tươi, giữa quảng
trường, trước lǎng là cột cờ cao 25m.
Quảng trường Ba Đình đã trở thành không gian thiêng
liêng của Thủ đô Hà Nội và của cả nước.
4. THÁP RÙA
Địa chỉ: Nằm trong Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội
Tháp xây trên
gò Rùa nơi xưa
từ thời vua
Lê Thánh Tông
đã dựng Điếu Đài ở đó để nhà vua ra câu cá. Sang thời
Lê Trung Hưng
(khoảng
XVII -
thế kỷ XVIII)
thì
Chúa Trịnh cho
xây đình Tả Vọng trên gò nhưng sang thời
nhà Nguyễn thì
không còn dấu tích gì nữa.
Ngọn tháp kết hợp phong cách kiến trúc Âu châu với
hàng cửa cuốn
gô-tích hai
tầng dưới nhưng phần mái cong giữ
quy thức kiến trúc Việt
Nam.
Theo truyền thuyết thì tháp Rùa đánh dấu nơi
rùa thần
Kim Quy hiện
lên đòi lại
gươm thần của
vua
Lê Lợi. Rùa hồ
Gươm vào những ngày nắng ấm vẫn thỉnh thoảng nổi lên phơi mình trên gò nên càng
làm câu chuyện truyền khẩu "gươm thần" thêm căn cứ.
5. HỒ HOÀN
KIẾM
Địa chỉ: Đường Đinh Tiên Hoàng - Phố Hàng Khay,
Hoàn Kiếm, Hà Nội
Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm) có một bề dày lịch sử và
huyền thoại song hành với bề dày lịch sử của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.
Cách đây khoảng 6 thế kỷ, hồ Gươm gồm
hai phần chạy dài từ
phố Hàng Đào,
qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt tới
phố Hàng Chuối,
thông với
sông Hồng.
Nước hồ quanh năm xanh biếc nên hồ Gươm cũng được gọi là hồ Lục Thuỷ.
Hồ Gươm có thể còn nhiều tuổi hơn cả kinh thành
Thăng Long xưa, và được mang khá nhiều tên: hồ Lục Thủy, hồ Tả Vọng, Hữu Vọng,
hồ Thủy Quân. Tương truyền vào
thế kỷ XV hồ
được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm, gắn liền với truyền thuyết trả gươm thần cho
Rùa Vàng, ghi lại thắng lợi của cuộc chiến đấu 10 năm của nhân dân Việt Nam
chống lại
quân Minh
(1417 - 1427) dưới sự lãnh đạo của
Lê Lợi - lãnh
tụ của nghĩa quân Lam Sơn qua sự tích bắt được thanh gươm thần trên sông Thu
(quê hương ông). Ông mang bên mình thanh gươm báu ấy suốt 10 năm cùng Nguyễn
Trãi lãnh đạo nghĩa quân đánh đuổi quân xâm lược Minh. Năm 1427, khi giặc tan,
ông lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Lê Thái Tổ. Một hôm, Lê Thái Tổ ngự thuyền rồng
dạo chơi quanh hồ. Bỗng một con rùa vàng nổi lên. Ông vung gươm chỉ vào rùa
vàng. Tự nhiên thanh gươm rời khỏi tay và bay về phía rùa vàng. Rùa liền há
miệng gậm thanh gươm báu lặn xuống lòng hồ. Vua Lê cho rằng đó là điềm lành của
trời đất. Nước Việt Nam ta từ nay sẽ thanh bình, thịnh trị.
Hồ Gươm là một phần không thể thiếu của Hà Nội ngàn
năm, nó được ví như trái tim của Hà Nội nói riêng và của cả nước Việt Nam nói
chung. Hồ Gươm chính là yếu tố quan trọng trong tổ chức
không gian đô thị Hà Nội, là điểm định hướng, điểm nút vô hình của thành phố. Nó
liên kết, và đảm bảo một sự chuyển giao có sắp xếp giữa các không gian đô thị
trong thành phố. Hồ Gươm cũng tạo dựng được sự tương quan, cùng mối liên hệ, gắn
bó và hỗ trợ qua lại rất mật thiết với khu vực phố cổ và khu phố cũ (khu phố
Pháp). Có thể coi dấu ấn đặc sắc nhất mà một đô thị như Hà Nội có được, đã được
tạo dựng bởi chính hai khu phố này với cái lõi chuyển tiếp đặc biệt là Hồ Gươm.
Với vị trí trung tâm, Hồ Gươm đã đóng vai trò như là một vật trang điểm quý giá
giữa hai phần của thành phố. Nó thanh lọc bầu không khí, và là gạch nối tuyệt
vời giữa hai bộ phận không gian khác nhau, thể hiện sự tinh tế, khôn ngoan cùng
tầm nhìn xa trông rộng trong quy hoạch. Nó đã và sẽ tiếp tục còn đem lại những
lợi ích lâu dài cho các thế hệ tương lai.
Những di tích lịch sử độc
đáo quanh hồ Gươm như: tháp Rùa, tượng vua Lý Thái Tổ, đền Ngọc Sơn, đài Nghiên,
tháp Bút, đền Bà Kiệu, chùa Bà Đá... và những công trình kiến trúc hiện đại, mới
được xây dựng hoặc tu tạo nhưng luôn đảm bảo kết hợp hài hoà với cảnh quan vốn
có quanh hồ. Hồ Gươm với đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc và tháp Rùa lung linh bóng
nước là hình ảnh của thủ đô Hà Nội trong mỗi trái tim người Việt Nam.
6. HỒ TÂY
Vị trí: thuộc quận Tây Hồ, phía Tây Bắc trung tâm
thành phố Hà Nội
Hồ Tây, mặt gương của Hà Nội, lá phổi của chốn Long
thành có diện tích rộng hơn 500 ha với một bề dày lịch sử mấy nghìn năm. Đường
vòng quanh hồ dài tới 17km. Ngành địa lý lịch sử đã chứng minh rằng hồ là một
đoạn sông Hồng cũ còn rớt lại sau khi sông đã đổi dòng... Có thể do sông hồ biến
đổi như vậy mà đã xuất hiện nhiều truyền thuyết về hồ và tên gọi của hồ.
Theo truyện "Hồ Tinh" thì có tên là hồ (hoặc đầm)
Xác Cáo, vì truyện kể có một con cáo chín đuôi ẩn nấp nơi đây làm hại dân. Long
Quân mới dâng nước lên phá hang cáo, hang sập thành ra hồ.
Theo truyện "Khổng lồ đúc chuông" thì hồ lại có tên
là Trâu Vàng. Truyện kể rằng có ông khổng lồ có tài thu hết đồng đen của phương
Bắc đem đúc thành chuông. Khi thỉnh chuông, tiếng vang sang bên Bắc. Vì đồng đen
là mẹ vàng nên con trâu vàng phương Bắc nghe tiếng chuông liền vùng đi tìm mẹ.
Tới đây nó quần mãi đất, khiến sụt thành hồ.
Theo thư tịch thì thế kỷ XI, hồ đi vào lịch sử với
tên là Dâm Đàm (Đầm mù sương), tới thế kỷ XV thì đã gọi là Tây Hồ. Hồ còn có tên
là Lãng Bạc, trùng với tên nơi diễn ra những trận đánh ác liệt giữa quân của Hai
Bà Trưng và quân Hán ở vùng Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Hồ Tây từ lâu đã là thắng cảnh của đất Thăng Long -
Hà Nội. Thời Lý - Trần, các vua chúa lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ
mát, giải trí, như cung Thúy Hoa thời Lý, điện Hàm Nguyên thời Trần nay là khu
chùa Trấn Quốc, cung Từ Hoa thời Lý nay là khu chùa Kim Liên, điện Thuỵ Chương
thời Lê nay là khu trường Chu Văn An...
Nếu làm một cuộc đi dạo quanh hồ thì đồng thời cũng
được thăm khá nhiều di tích và thắng cảnh. Làng Nghi Tàm, quê hương nhà thơ "Bà
huyện Thanh Quan" với chùa Kim Liên có kiến trúc độc đáo; làng Nhật Tân nguồn
hoa đào mỗi độ xuân về, tương truyền là nơi Lạc Thị đời Hồng Bàng sinh ra một
bọc trứng nở thành bảy con rồng. Rồi làng Xuân Tảo với đền Sóc thờ Thánh Gióng,
làng Trích Sài có chùa Thiên Niên thờ bà tổ nghề dệt lĩnh, sang làng Kẻ Bưởi có
nghề làm giấy cổ truyền và đền Đồng Cổ nơi bách quan hội thề thời Lý, làng Thụy
Khuê có chùa Bà Đanh nổi tiếng một thời... và đặc sắc nhất là đền Quán Thánh.
7. HỒ TRÚC
BẠCH
Địa chỉ: Đường Thanh Niên, Quận Ba Đình, Hà Nội
Hồ Trúc Bạch cách Hồ Tây bởi con đường Thanh Niên.
Đường Thanh Niên có từ năm 1957 - 1958 theo ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau
khi hồ được thanh niên học sinh Hà Nội lao động trong những Ngày thứ Bảy Cộng
sản mở rộng như ngày nay. Trước gọi là đường Cổ Ngư, hình thành từ một con đê
hẹp được đắp ngăn một góc Hồ Tây.
Hồ Trúc Bạch có từ thế kỉ XVII khi dân hai làng Yên
Hoa (nay là Yên Phụ) và Yên Quang (nay là phố Quán Thánh) đắp con đê ngăn góc
Đông Nam Hồ Tây để nuôi bắt cá. Từ khi thành một hồ biệt lập, hồ đã đi vào thư
tịch cổ. Sách "Tây Hồ chí" cho biết nguyên ở phía Nam hồ có làng Trúc Yên, có
nghề làm mành, do đó nhà nào cũng trồng trúc, trúc mọc như rừng. Thời chúa Trịnh
Giang (1729 - 1740) xây ở đây một cung điện gọi là Viện Trúc Lâm. Về sau, viện
trở thành nơi giam cầm những cung nữ có lỗi, phải dệt lụa để mưu sinh. Lụa đẹp,
bóng bẩy, nổi tiếng khắp kinh thành, gọi là lụa làng Trúc.
Ven hồ Trúc Bạch có nhiều di tích lịch sử và công
trình kiến trúc đặc sắc như đền Quán Thánh ở ngay góc Tây Nam hồ. Phía Đông có
chùa Châu Long (phố Châu Long), tương truyền xây từ thời Trần, là nơi tu hành
của công chúa con vua Trần Nhân Tông. Có đền An Trì, nơi thờ Uy Đô, một anh hùng
chống quân Nguyên.
Ba phía chung quanh hồ phố xá che khuất, chỉ có phía
Tây giáp đường Thanh Niên mới bày ra vẻ đẹp êm ả phẳng lặng của mặt hồ. Phía Bắc
hồ có một gò đất nhỏ, trên gò có đền thờ Cẩu Nhi gắn với chuyện Lý Công Uẩn dời
đô. Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất (974), dời đô năm Canh Tuất (1010). Mà "Tuất"
là "chó" - 1 trong 12 con vật theo lịch âm. Trong tín ngưỡng cổ truyền chó là
con vật có khả năng xua đuổi tà ma, bảo vệ đất đai. Huyền thoại kể rằng trước
ngày Lý Công Uẩn dời đô, có một con chó tới làm ổ đẻ con trên đỉnh núi Nùng, nơi
này về sau dựng "Chính điện đài" và lập bên điện ngôi đền thờ chó mẹ và chó con.
Đến triều đại sau, đền thờ Cẩu Nhi được dời ra ngoài hoàng thành, dựng trên gò
trong hồ Trúc.
Hồ Trúc Bạch cùng với công viên Lý Tự Trọng và Hồ
Tây tạo thành một tổng thể thiên nhiên hài hoà, làm thành một thắng cảnh của thủ
đô Hà Nội.
8. CỘT CỜ HÀ
NỘI
Địa chỉ: 28A Điện Biên Phủ
Công trình kiến trúc được xây dựng từ thế kỷ XIX. Là
một trong những công trình kiến trúc thuộc khu vực thành cổ Hà Nội. Với chiều
cao đáng kể, cột cờ này được nhà binh Pháp khi đó dùng làm đài quan sát và trạm
thông tin liên lạc giữa ban chỉ huy với những đồn bốt xung quanh, ban ngày
dùng bằng tín hiệu, ban đêm dùng bằng đèn.
Cột cờ được xây năm 1812 gồm ba tầng đế và một thân
cột. Các tầng đế hình chóp cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh xây ốp gạch.
Tầng một mỗi chiều 42,5m, cao 3,1m; có hai cầu thang gạch dẫn lên. Tầng hai mỗi
chiều 27m, cao 3,7m. Tầng ba mỗi chiều 12,8m, cao 5,1m; có bốn cửa, cửa hướng
Đông trên có đắp hai chữ "Nghênh húc" (đón ánh nắng ban mai), cửa tây với "Hồi
quang" (ánh sáng phản chiếu), cửa Nam với "Hướng minh" (hướng về ánh sáng), cửa
Bắc không có chữ đề. Trên tầng này là thân cột cờ, hình trụ 8 cạnh, thon dần lên
trên. Trong thân này có cầu thang 54 bậc xây xoáy trôn ốc lên tới đỉnh. Để tạo
sự thông thoáng và ánh sáng lọt qua mỗi mặt trên thân cột cờ có từ 4 đến 5 ô
hình hoa thị, vị trí cao nhất mỗi mặt có 1 ô hình dẻ quạt.
Ðỉnh cột cờ được cấu tạo thành một lầu hình bát
giác, có 8 cửa tương ứng 8 mặt. Giữa lầu là một trụ tròn, cao đến đỉnh lầu, là
chỗ để cắm cán cờ. Toàn bộ cột cờ cao 33,4m. Nếu kể cả trụ treo cờ thì trên 41m.
Cột cờ đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của dân
tộc trải qua bao thế kỷ. Khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công mang lại nền
dân chủ cộng hoà Việt Nam, lần đầu tiên, trên cột cờ lá cờ đỏ sao vàng tung bay
phấp phới giữa trời.
Hiện Cột cờ Hà Nội nằm trong khuôn viên của
Bảo tàng Lịch sử Quân sự
Việt Nam (trước đây là Bảo tàng Quân đội), trên đường Điện Biên Phủ,
quận Ba Đình.
9. VĂN MIẾU
- QUỐC TỬ GIÁM
Địa chỉ: Đường Quốc Tử Giám, Quận Đống Đa, Hà Nội
Trong số các di tích lịch sử của Hà Nội, Văn Miếu -
Quốc Tử Giám là một di tích gắn liền với sự thành lập của kinh đô Thăng Long
dưới triều Lý, đã có lịch sử gần nghìn năm, với quy mô khang trang bề thế nhất,
tiêu biểu nhất cho Hà Nội và cũng là nơi được coi là biểu tượng cho văn hóa,
lịch sử Việt Nam.
Từ năm 1070, đời vua Lý Thánh Tông cho khởi dựng Văn
Miếu - Quốc Tử Giám để tôn thờ và bồi dưỡng Nho học. Xây dựng khá quy mô, Văn
Miếu - Quốc Tử Giám trong khuôn viên hình chữ nhật. Mặt tiền cũng là chiều ngang
rộng 75m, quay ra đường Quốc Tử Giám, phía sau giáp đường Nguyễn Thái Học. Chiều
dài phía Bắc là đường Tôn Đức Thắng, phía Nam là đường Văn Miếu dài 306m.
Năm
1076,
Lý Nhân Tông
cho lập trường Quốc Tử Giám, có thể coi đây là trường
đại học đầu
tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại
quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử). Năm
1156,
Lý Anh Tông
cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ
Khổng Tử.
Từ năm
1253, vua
Trần Thái Tông
cho mở rộng Quốc Tử Giám và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học
xuất sắc.
Đời
Trần Minh Tông,
Chu Văn An
được cử làm quan Quốc Tử Giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của
các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua
Trần Nghệ Tông
cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh
Khổng Tử.
Sang thời
Hậu Lê,
Nho giáo rất
thịnh hành. Vào năm
1484,
Lê Thánh Tông
cho dựng
bia tiến sĩ
của những người thi đỗ
tiến sĩ từ
khóa thi
1442 trở đi.
Năm
1762,
Lê Hiển Tông
cho sửa lại là Quốc Tử Giám - cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình.
Năm
1785 đổi thành
nhà Thái học.
Văn Miếu - Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng
và phong phú. Là tổ hợp gồm hai di tích chính: Văn Miếu thờ
Khổng Tử, các
bậc hiền triết của
Nho giáo và Tư
nghiệp Quốc Tử Giám
Chu Văn An,
người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam; và Quốc Tử
Giám, trường quốc học cao cấp đầu tiên của
Việt Nam, với
hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Quần thể kiến
trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục
Bắc Nam, mô phỏng tổng thể
quy hoạch khu
Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại
Khúc Phụ,
Sơn Đông,
Trung Quốc.
Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn,
kiến trúc đơn
giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc.
Phía trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn
Chương, tên cũ xưa gọi là Thái Hồ. Giữa hồ có gò Kim Châu, trước đây có lầu để
ngắm cảnh.
Ngoài cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia
"Hạ Mã", xung quanh khu vực xây tường cao bao quanh. Cổng Văn Miếu xây kiểu tam
quan, trên có 3 chữ "Văn Miếu Môn" kiểu
chữ Hán cổ
xưa.
Trong Văn Miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu
vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau :
- Khu thứ nhất: bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn
đi đến cổng Đại Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn.
- Khu thứ hai: từ Đại Trung Môn vào đến khuê Văn Các
(do Đức Tiền Quân Tổng trấn Bắc Thành
Nguyễn Văn Thành
cho xây năm
1805). Khuê
Văn Các là công trình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỷ lệ hài hòa và đẹp mắt.
Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông (85cm x 85cm) bên dưới đỡ tầng gác phía trên, có
những kết cấu gỗ rất đẹp. Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can con tiện và
con sơn đỡ mái bằng
gỗ đơn giản,
mộc mạc. Mái ngói chồng hai lớp tạo thành công trình 8 mái, gờ mái và mặt mái
phẳng. Gác là một lầu vuông tám mái, bốn bên tường gác là cửa sổ tròn hình mặt
trời toả tia sáng. Hình tượng Khuê Văn Các mang tất cả những tinh tú của bầu
trời toả xuống trái đất và trái đất nơi đây được tượng trưng hình vuông của
giếng Thiên Quang. Công trình mang vẻ đẹp
sao Khuê, ngôi
sao sáng tượng trưng cho văn học. Nơi đây thường được dùng làm nơi thưởng thức
các sáng tác văn thơ từ cổ xưa tới nay. Hai bên phải trái Khuê Văn Các là Bi Văn
Môn và Súc Văn Môn dẫn vào hai khu nhà bia tiến sỹ.
- Khu thứ ba: gồm hồ nước Thiên Quang Tỉnh (nghĩa là
giếng soi ánh mặt trời), có hình vuông. Hai bên hồ là 2 khu nhà bia tiến sĩ. Mỗi
tấm bia được làm bằng đá, khắc tên các vị thi đỗ
Trạng nguyên,
Bảng nhãn,
Thám hoa,
Hoàng giáp,
Tiến sĩ. Bia đặt trên lưng một con rùa. Hiện còn 82 tấm
bia tiến sĩ về
các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779. Trong đó, 12 bia đầu tiên (cho các khoa
thi những năm 1442 - 1514) được dựng vào thời
Lê sơ, 2 bia
(cho các khoa 1518, 1529) được dựng vào triều
nhà Mạc, còn
68 bia cuối cùng (các khoa thi những năm 1554 - 1779) được dựng vào thời
Lê trung hưng.
Mỗi khu nhà bia gồm có 1 Bi đình nằm ở chính giữa và 4 nhà bia (mỗi nhà 10 bia)
xếp thành hai hàng, nằm hai bên Bi đình. Bi đình khu bên trái Thiên Quang Tỉnh
chứa bia tiến sĩ năm 1442, còn Bi đình khu bên phải chứa bia tiến sĩ năm 1448.
- Khu thứ tư: là khu trung tâm và là kiến trúc chủ
yếu của Văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau. Toà
ngoài nhà là Bái đường, toà trong là Thượng cung.
-Khu thứ năm: là khu Thái Học, trước kia đã có một
thời kỳ đây là khu
đền Khải
Thánh, thờ bố mẹ Khổng Tử, nhưng đã bị phá hủy. Khu nhà Thái Học mới được xây
dựng lại năm 2000.
Trong Văn Miếu có tượng
Khổng Tử và
Tứ phối (Nhan
Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử). Ở điện thờ Khổng Tử có hai cặp
hạc cưỡi trên
lưng
rùa. Đây là
hình tượng rất đặc trưng tại các đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo ở Việt Nam. Hình
ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu..., hạc đứng trên lưng
rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm - dương. Hạc
là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và
hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết
bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ,
ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc
vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã
được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương
trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.
Năm 1999, để kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội
(1010 - 2000), nhà nước ta cho xây dựng lại khu Thái Học - Văn Miếu theo lối
kiến trúc cổ, thờ các vị vua: Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tông và Nhà
giáo Chu Văn An là những người có nhiều công giữ gìn và bồi đắp nền Nho học
trong trường đại học đầu tiên của nước ta. Khuê Văn Các ở Văn Miếu -Quốc Tử Giám
đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội.
Ngày nay, Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi Rằm tháng
Giêng hằng năm, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức báo cáo kết quả của nền văn học
trong năm và bình những bài thơ hay. Đây là nơi nhà nước tổ chức trao các hàm,
học vị: Giáo sư, Viện sĩ, Tiến sĩ… cho những trí thức mới. Hằng năm, cứ sau kỳ
tốt nghiệp bậc đại học, thủ khoa của các trường được về Văn Miếu - Quốc Tử Giám
để Chủ tịch UBND TP Hà Nội trao bằng khen và tham quan, ngoài ra rất nhiều hoạt
động trong lĩnh vực văn hóa được tổ chức tại Văn Miếu. Đặc biệt, khách nước
ngoài từ khắp các lục địa cũng về đây hằng ngày để tham quan và tìm hiểu trường
đại học đầu tiên của Việt Nam, Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
10.
THÀNH CỔ HÀ NỘI
Thành cổ Hà Nội là một khái niệm tương đối rộng và
tùy theo cách hiểu của mỗi người nó có thể bao gồm những thành phần khác nhau.
Chưa có một định nghĩa thống nhất cho cụm từ này. Theo cách hiểu của người viết
bài, Thành cổ Hà Nội bao gồm Hoàng thành
Thăng Long qua
các thời kỳ
Lý,
Trần,
Lê và thành
Hà Nội dưới
triều Nguyễn.
Mùa thu năm 1010, sau khi công bố
Thiên đô chiếu,
Lý Công Uẩn cùng các quần thần đã gấp rút xây dựng những công trình cơ bản của
kinh thành Thăng Long. Đến đầu năm 1011 thì hoàn thành. Khi mới xây dựng, kinh
thành Thăng Long được xây dựng theo mô hình
Tam trùng thành quách
gồm: vòng ngoài cùng gọi là La thành hay kinh thành, vòng thành thứ hai là Hoàng
Thành, giữa hai lớp thành này là nơi sinh sống của cư dân, lớp thành còn lại là
Tử cấm thành hay Cấm thành hay Long Phượng thành là nơi ở của nhà vua. Các thời
sau đều theo cách ấy mà phân chia.
Năm 1029, Lý Thái Tôn xây dựng lại toàn bộ khu cấm
thành sau khi nơi đây bị tàn phá bởi vụ
Loạn Tam vương.
Trên nền cũ điện Càn Nguyên, Lý Thái Tôn cho dựng điện Thiên An làm nơi thiết
triều. Hai bên tả hữu là điện Tuyên Đức và điện Thiên Phúc. Phía trước điện Diên
An là sân Rồng có đặt một quả chuông lớn. Hai bên tả hữu sân Rồng có đặt gác
chuông. Phía Đông, Tây sân Rồng là điện Văn Minh và điện Quảng Vũ, phía trước
sân Rồng là là điện Phụng Tiên, trên điện có lầu Chính Dương là nơi báo canh báo
khắc. Sau điện Diên An là điện Thiên Khánh hình bát giác. Sau điện Thiên Khánh
là điện Trường Xuân. Trên điện Trường Xuân có gác Đồ Long. Từ điện Thiên Khánh
nối với điện Thiên An ở phía sau đều có bắc cầu gọi là cầu Phượng Hoàng Năm
1203, vua Lý Cao Tôn bắt đầu một đợt xây dựng mới. Cung điện mới được xây ở phía
Tây tẩm điện. Bên trái dựng điện Dương Minh, bên phải dựng điện Chính Nghi, ở
trên xây điện Kính Thiên, thềm gọi là Lệ Giao. Ở giữa mở cửa Vĩnh Nghiêm, bên
phải mở cửa Việt Thành, thềm gọi là Ngân Hồng. Đằng sau xây điện Thắng Thọ. Bên
trái xây gác Nhật Kim, bên phải xây gác Nguyệt Bảo, xung quanh dựng hành lang
thềm gọi là Kim Tinh. Bên trái gác Nguyệt Bảo là tòa Lương Thạch, phía Tây xây
gác Dục Đường (nhà tắm). Phía sau xây gác Phú Quốc, thềm gọi là Phượng Tiêu.
Phía sau dựng cửa Thấu Viên, ao Dưỡng Ngư trên ao xây đình Ngoạn Y. Ba mặt đình
có trồng hoa thơm cỏ lạ, nước thông với sông. Ngoài ra các cung điện khác cũng
được xây dựng liên tục, không đời nào không có, không mấy năm không có. Mỗi cung
điện thường đều có tường bao xung quanh và làm cửa thông với cung điện khác.
Ngoài cung điện, các vị vua nhà Lý còn cho xây dựng nhiều công trình văn hóa tín
ngưỡng khác để phục vụ cho vua và hoàng tộc như: đền Quan Thánh, chùa Chân Giáo
(nơi vua Lý Huệ Tôn đã tu hành), đài Chúng Tiên dựng năm 1161 tầng trên lợp ngói
bạc, hồ ao làm cảnh cũng được lập khá nhiều trong Hoàng Thành. Năm 1049, đào hồ
Kim Minh vạn tuế, đắp núi đá cao ba ngọn trên mặt hồ và xây cầu Vũ Phượng đi
vào, 10 năm sau lại xây thêm điện Hồ Thiên bát giác ở đấy. Năm 1051 đào hồ Thụy
Thanh, hồ Ứng Minh. Năm 1098, đào hồ Phượng Liên và xây tại đây điện Sùng Uyên,
bên trái lập điện Huy Dương, đình Lai Phượng bên phải dựng điện Ánh Thiềm, đình
Át Vân, phía trước xây lầu Trường Minh, phía sau bắc cầu Ngoạn Hoa. Nhiều vườn
ngự cũng được dựng nên trong Hoàng Thành. Mùa thu năm 1048, mở luôn 3 vườn ngự:
vườn Quỳnh Lâm, vườn Thắng Cảnh và vườn Xuân Quang. Năm 1065, mở thêm vườn
Thượng Lâm. Giữa thế kỷ XIV lại dựng một vườn ngự nữa nối liền với hậu cung.
Theo sử cũ còn ghi giữa vườn có đào một cái hồ lớn: "Trong hồ chất đá làm
núi, trên bờ hồ trồng thông, trúc và nhiều thứ kỳ hoa diệu thảo khác thêm vào
đấy là chim quý thú lạ. Bốn mặt khai cho sông nước thông vào, gọi hồ ấy là hồ
Lạc Thanh Trì. Về phía tây hồ trồng hai cây quế, dựng một tòa điện gọi là điện
Lạc Thanh. Lại đào các hồ nhỏ khác, bắt người ở Hải Đông chở nước mặn chứa vào
hồ ấy, đẻ nuôi các loài hải sản như đồi mồi cá biển và các loại ba ba. Rồi bắt
người Hóa Châu bắt cá sấu thả vào đấy. Lại có hồ Thanh Ngư để nuôi cá Thanh Phụ
(cá diếc đuôi đỏ vảy biếc)... Lại làm dãy hành lang ở tây điện thẳng đến cửa
Hoàng Phúc, dựng dãy Trường Lang từ gác Nguyên Huyền đến cửa Đại Triều phía tây.
Sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi vẫn đóng đô ở
Thăng Long nhưng đổi tên là Đông Đô rồi Đông Kinh (1430). Về cơ bản Đông Đô thời
Lê không khác nhiều Thăng Long đời Lý, Trần, Hồ chỉ có điều cung điện đền đài đã
bị phá phách hết cả. Nhà Lê mới dần dần sửa chữa xây dựng thêm.
Từ năm 1490 cho đến thế kỷ XVI kinh thành mới có
nhiều thay đổi. Trong thời gian này tường Hoàng thành cũng như Đại La thành luôn
được xây đắp mở rộng thêm ra. Năm 1490, để đề phòng những nạn loạn đảng như
Nghi Dân đang
đêm trèo tường vào giết
Lê Nhân Tôn ở
trong cung, Lê Thánh Tôn cho xây lại Hoàng thành mở rộng thêm 8 dặm nữa. Công
việc xây dựng trong 8 tháng mới xong. Trong Hoàng thành, Lê Thánh Tôn cũng cho
xây thêm cung điện và lập vườn Thượng Lâm để nuôi bách thú. Năm 1512, Lê Tương
Dực giao
Vũ Như Tô đứng
ra trông nom việc dựng hơn 100 nóc cung điện nguy nga, lại khởi công làm
Cửu Trùng Đài
mà sử cũ miêu tả là tuy chưa hoàn thành mà bóng rợp nửa hồ Tây. Năm 1514, Lê
Tương Dực mở rộng Hoàng thành thêm mấy nghìn trượng (mỗi trượng là 3,6m) bao bọc
cả điện Tường Quang, quán Trấn Vũ và chùa Kim Cổ Thiên Hoa. Từ năm 1516 đến năm
1527 là năm nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, kinh thành Thăng Long chìm trong loạn lạc.
Hầu hết các cung điện kho tàng đền chùa cũng như phường phố bị thiêu đốt tàn phá
nhiều lần. Trong nửa cuối thế kỷ XVI, cục diện
Nam Bắc triều
với một bên là nhà Mạc và một bên là Lê-Trịnh diễn ra quyết liệt với ưu thế ngày
càng thuộc về phe Nam triều. Họ Trịnh lần lượt chiếm được nhiều tỉnh phía Bắc
như Ninh Bình, Hà Nam, Bắc Ninh... và đánh đến tận Thăng Long. Nhà Mạc phải rời
bỏ kinh thành chạy lánh nạn nơi này nơi khác. Thăng Long ngày một điêu tàn. Đến
năm 1585, không chịu nổi kiếp sống lưu vong trường kỳ như vậy,
Mạc Mậu Hợp
quyết định trở lại Thăng Long. Một đợt xây dựng đại quy mô được khởi động. Từ đó
về sau cũng không có lần nào Hoàng thành được xây dựng quy mô như thế nữa. Năm
1599 Trịnh Tùng đuổi được nhà Mạc lên Cao Bằng tiến về tiếp quản Thăng Long.
Hoàng Thành được tu sửa trong một tháng để đón vua Lê ra. Rồi từ ấy trở đi những
cung điện mới xây ở đều nằm trong
phủ Chúa.
Hoàng thành bị bỏ hoang phế nhiều.
Năm 1788,
Lê Chiêu Thống
cầu viện
nhà Thanh,
Tôn Sĩ Nghị
đem đại quân 29 vạn người sang chiếm Thăng Long không tốn một hòn tên mũi đạn.
Dựa thế quân Thanh, Lê Chiêu Thống điên cuồng trả thù họ Trịnh. Phủ chúa bị Lê
Chiêu Thống đốt trụi cháy ròng rã một tuần mới hết. Tất cả những gì liên quan
đến chúa Trịnh ở Thăng Long bị phá sạch. Kinh thành lại một lần nữa ra tro. Đầu
năm 1789,
Quang Trung
Nguyễn Huệ ra
Bắc lần thứ ba đánh tan quân Thanh, Lê Chiêu Thống chạy sang
Trung Quốc,
triều
Hậu Lê kết
thúc, Quang Trung định đô ở
Phú Xuân.
Thăng Long chỉ còn là
Bắc thành. Năm
1802 sau khi tiêu diệt xong
Tây Sơn,
Nguyễn Ánh lên
ngôi hoàng đế. Kinh đô vẫn được đặt ở Phú Xuân. Thăng Long vẫn mang tên gọi là
Thăng Long nhưng chữ "Long" là rồng bị chuyển thành chữ "Long" nghĩa là thịnh
vượng, ý rằng nhà vua không còn ở đấy. Đồng thời những gì còn sót lại của Hoàng
Thành sau những trận đại hủy diệt cuối thế kỉ XVIII cũng lần lượt bị các đời vua
nhà Nguyễn chuyển nốt vào Phú Xuân phục vụ cho công cuộc xây dưng kinh thành
mới. Chỉ duy có
điện Kính Thiên
và
Hậu Lâu được
giữ lại làm hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi ngự giá Bắc thành. Năm 1805,
Gia Long cho
phá bỏ tường của Hoàng Thành cũ vì cho rằng đây chỉ còn là Trấn Bắc thành mà
Hoàng thành Thăng Long thì rộng lớn quá. Gia Long cho xây dựng thành mới theo
kiểu Vauban của
Pháp. Về quy
mô thì nhỏ hơn thành cũ nhiều. Năm 1831, trong cuộc cải cách hành chính lớn,
Minh Mạng đã
cho đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội. Cái tên này tồn tại cho đến năm 1888
khi
nhà Nguyễn
chính thức nhượng hẳn Hà Nội cho Pháp.
Người Pháp đổi
Hà Nội thành
thành phố. Đến
khi chiếm xong toàn
Đông Dương, họ
lại chọn đây là thủ đô của
Liên bang Đông Dương
thuộc Pháp. Thành Hà Nội bị phá đi hoàn toàn để lấy đất làm công sở và trại lính
cho người Pháp. Ngoại trừ cửa Bắc và cột cờ những gì còn sót lại của thành Hà
Nội đến hôm nay chỉ là di chỉ khảo cổ và phục dựng.
Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu
Di tích này bao gồm tầng dưới cùng là một phần bên
phía đông của thành Đại La dưới thời
Cao Biền, nhà
Đường, tầng trên là cung điện nhà Lý và nhà Trần, tiếp theo là một phần trung
tâm của đông cung
nhà Lê và trên
cùng là một phần của trung tâm tòa thành tỉnh
Hà Nội thế kỷ
19.
11. NHÀ HÁT
LỚN
Địa chỉ: số 1 Tràng Tiền
Nhà hát Lớn Hà Nội bắt đầu xây dựng từ năm 1902 đến
năm 1911 hoàn thành, theo kiểu mẫu nhà hát Opera ở Paris. Đây là một trong các
trung tâm
văn hóa của
thủ đô Hà Nội, nơi diễn ra thường xuyên các hoạt động văn hóa, biểu diễn
nghệ thuật,
ca múa nhạc,
hòa nhạc, giao
lưu...
Vào năm
1995, Nhà hát
Lớn Hà Nội được
Chính phủ Việt Nam
tu bổ lại để chuẩn bị cho
Hội nghị Thượng đỉnh Cộng
đồng Pháp ngữ được tổ chức tại Việt Nam vào năm
1998. Vốn của
đợt tu bổ này là 156
tỷ
đồng. Chủ
nhiệm dự án là
kiến trúc sư
Hoàng Đạo Kính.
Nhà hát Lớn chiếm diện tích 2.600m²,
chiều dài 87m,
chiều rộng 30m, đỉnh so với mặt đường là 34m, phòng khán giả chính có diện tích
24 x 24m. Cầu thang giữa lên tầng hai là một sảnh chính rộng, cầu thang phụ và
hành lang chạy vòng ở hai bên. Đằng sau sân khấu là phòng quản trị, 18 buồng hoá
trang, 2 phòng tập hát, 1 thư viện và 1 phòng họp.
Hiện tại sức chứa của Nhà hát là 900 ghế, xếp thành
3 tầng được thiết kế theo phong cách cổ điển Pháp thế kỷ XIX. Trần bên trên
phòng khán giả do các hoạ sỹ Pháp vẽ. Đèn chùm đựợc dát một lớp vàng theo công
nghệ mới. Đèn gắn trên tường làm bằng đồng theo kiểu cổ.
- Sảnh chính: được lát đá Italy, có màu sắc tạo cảm
giác như được trải tấm thảm lớn, dọc hai bên tường là hệ thống đèn chùm nhỏ mạ
đồng, đèn chùm ở giữa mạ vàng
- Phòng khán giả: lát gạch chất lượng cao và trải
thảm chống cháy. Tường và trần trang trí bằng các hình vẽ cầu kỳ của các hoạ sĩ
Pháp
- Nhà gương: là phòng lễ nghi quan trọng thường
xuyên đón tiếp các nhân vật cao cấp của
Đảng và
Nhà nước, các
nguyên thủ quốc gia,
được lát bằng
đá từ
Italia, lắp
ghép thủ công theo kỹ thuật
Mozaic.
12. NGÔI NHÀ
CỔ 87 MÃ MÂY
Ngôi nhà cổ 87 Mã Mây nằm ở phía Bắc hồ Hoàn Kiếm.
Phố Mã Mây xưa kia là hai phố: đoạn đầu là phố Hàng Mây chuyên bán song mây,
đoạn sau là phố Hàng Mã, thời Pháp thuộc còn có tên Quân Cờ Đen. Ngôi
nhà 87 phố Mã Mây đã trải bao biến cố thăng trầm lịch sử của thời gian, nhưng
vẫn giữ nguyên lối kiến trúc cổ.
Kiến trúc ngôi nhà theo kiểu nhà truyền thống: giữa
các lớp nhà có sân trong để lấy gió và ánh sáng, tầng một (phần tiếp giáp mặt
phố) dùng để bán hàng, phía trong để ở và sản xuất, phần trong cùng là bếp và
khu vệ sinh. Tầng hai, phòng ngoài để thờ và tiếp khách, phòng trong là nơi ở.
Ngôi nhà còn được giữ lại các chi tiết kiến trúc cổ Hà Nội.
Trước năm 1945, chủ nhà là một thương gia gạo nổi
tiếng đất Hà thành - ngôi nhà đã đón nhiều thương lái khắp mọi miền. Sau năm
1945, người chủ nhượng lại ngôi nhà cho một gia đình người Hoa giàu có làm nghề
buôn bán và bốc thuốc. Người chủ mới chỉ gắn bó với ngôi nhà chưa đầy 10 năm thì
di cư vào Nam, để lại ngôi nhà vắng chủ trong một thời gian dài.
Đến năm 1999, ngôi nhà được trùng tu lại theo chương
trình “Bảo tồn, tôn tạo phố cổ Hà Nội” - dự án giữa TP. Hà Nội với TP. Toulouse
(Pháp). Nay, ngôi nhà là điểm tham quan hấp dẫn du khách trong, ngoài nước và là
địa chỉ tái hiện sinh động bức tranh toàn cảnh sinh hoạt, buôn bán tấp nập của
“Hà Nội ba mươi sáu phố phường xưa”.
13. NGÔI NHÀ
CỔ 38 HÀNG ĐÀO
Hai ngôi nhà 87 Mã Mây và 38
Hàng Đào là hai căn nhà nằm trong dự án tái hiện những ngôi nhà cổ nhân dịp 990
năm Thăng Long - Hà Nộivà đã trở thành điểm du lịch để giới thiệu cho khách tham
quan về giá trị của kiến trúc của những ngôi nhà cổ Hà Nội.
Ngôi nhà 38 Hàng Đào, nguyên là đình Đồng Lạc (đình
chợ bán yếm lụa). Đình được xây dựng từ thời vua Lê (thế kỷ XVII) với quy mô
rộng rãi, nhưng vì chiến tranh, đình bị phá huỷ. Khoảng năm 1856 (niên hiệu Tự
Đức, Bính Thìn), ngôi đình này được trùng tu. Năm 1941 (niên đại Bảo Đại 15),
đình được xây dựng lại với quy mô hai tầng. Tầng một sử dụng để ở, điện thờ được
đưa lên tầng hai. Trước và sau nhà có sân trồng cây. Ngồi nhà còn giữ lại được
tấm bia đá cách đây hơn 150 năm (một di vật hiếm có ở các đình Hà Nội) và một số
họa tiết trang trí của đình.
Ngôi nhà được cải tạo, bảo tồn từ đầu năm 2000 và
khánh thành vào tháng 4 năm 2000. Căn nhà 38 Hàng Đào đã
được chọn là nơi giới thiệu sự kết hợp về kĩ thuật kiến trúc truyền thống và
kiến trúc hiện đại. Với tư cách là kiến trúc sư, bà Tô Thị Toản, người đã trực
tiếp chịu trách nhiệm về mặt kiến trúc bên ngoài, cho biết, vật liệu xây dựng
được sử dụng ở đây là bằng bê tông chịu lực và gỗ: các cửa ra vào làm bằng bê
tông, trong khi bậc thang được làm bằng bê tông và lát gỗ. Các cửa ra vào được
thiết kế theo kiểu, cửa chính thì cao, các cửa xung quanh thấp như kiến trúc của
chùa chiền và ngôi nhà chung: cửa chính dành riêng cho những người có địa vị cao
(như thành viên của hoàng tộc, quan lại và công chức) trong khi cửa bên dành cho
dân thường. Nhà thờ nơi cửa trước vẫn được giữ nguyên như ban đầu. Những họa
tiết trên tay vịn cầu thang và lan can được giữ lại theo nguyên mẫu sẵn có. Căn
nhà 38 Hàng Đào không những đã trở thành một địa chỉ tham quan mà còn được xác
định là trụ sở chính của Hội Bảo tồn nhà cổ Hà Nội. Tại đây bạn sẽ được cung cấp
nhiều thông tin hơn về phố cổ cũng như những ngôi nhà cổ của Hà Nội.
14. CHỢ ĐỒNG XUÂN
Địa chỉ: Chợ Đồng Xuân nằm trong khu phố cổ, phía
tây là
phố Đồng Xuân,
phía bắc là
phố Hàng Khoai,
phía nam là
phố Cầu Đông,
phía đông là
ngõ chợ Đồng Xuân.
Năm
1889, khi
những dấu tích cuối của
sông Tô Lịch
và
hồ Thái Cực bị
lấp hoàn toàn, người Pháp quy hoạch lại đã giải tỏa hai chợ trên và dồn tất cả
các hàng quán vào khu đất trống của phường Đồng Xuân, tạo thành chợ Đồng Xuân.
Trong năm đầu tiên chợ họp ngoài trời, hoặc có che mái lá giống như hai chợ cũ.
Năm 1890 chính quyền Pháp mới bắt đầu xây dựng chợ
Đồng Xuân, tạo thành năm vòm cửa và năm nhà cầu dài 52m, cao 19m. Mặt tiền theo
kiến trúc Pháp, gồm năm phần hình tam giác có trổ lỗ như tổ ong, lợp mái tôn.
Vào khoảng năm 1990, chợ được xây dựng lại, phá bỏ
hai dãy hai bên, ba dãy giữa xây lên ba tầng. Hai tấm cửa hai bên cũng bị dỡ,
nhưng vẫn còn giữ hai cột ngoài cùng.
Năm 1994, chợ Đồng Xuân đã bị hỏa hoạn, lửa thiêu
trụi gần như toàn bộ các gian hàng trong chợ.
Chợ Đồng Xuân là chợ đầu mối dành cho bán buôn là
chính. Xưa kia chợ bán rất nhiều loại hàng, nhưng hiện tại chủ yếu bán đồ điện
tử, đồ gia dụng, vải vóc quần áo. Phía sau chợ có các hàng bán chim thú cảnh.
Hàng thực phẩm và ăn uống chủ yếu bán ở chợ Bắc Qua. Phía Bắc của chợ, là các
hàng ăn, phục vụ khách cả ăn đêm. Xung quanh chợ lúc nào cũng đông đúc nhộn
nhịp. Hàng hóa từ đây vận chuyển đi khắp các tỉnh phía Bắc.
Chợ đêm Đồng Xuân ra đời năm 2003 vừa đa dạng hóa
hoạt động của chợ vừa phục vụ nhu cầu mua sắm vui chơi của khách du lịch. Chợ
đêm Đồng Xuân kết nối với tuyến phố đi bộ Hàng Đào - Đồng Xuân tạo thành chuỗi
chợ đêm kéo dài từ bờ Hồ đến chợ Đồng Xuân, thu hút đông đảo người Hà Nội và
khách du lịch đến tham quan, mua sắm.
15. LÀNG LỤA
VẠN PHÚC
Địa chỉ: Làng lụa Vạn Phúc nằm bên bờ sông
Nhuệ, Hà Đông, Hà Nội.
Vạn Phúc là một làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi
tiếng từ xa xưa, nổi tiếng với nghề dệt lụa truyền thống. "Lụa Hà Đông" cũng như
các sản phẩm thủ công truyền thống của các làng nghề Hà Nội, thường được nhắc
đến trong thơ ca xưa. Trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ lại, xen
lẫn với các khung dệt cơ khí hiện đại.
Theo truyền thuyết, cách đây khoảng 1.200 năm, bà A
Lã Thị Nương, một người con gái ở Cao Bằng nổi tiếng đảm đang và có tay nghề dệt
lụa khéo léo về làm dâu làng Vạn Phúc. Bà đã truyền nghề lại cho dân làng và sau
khi mất, bà được phong làm thành hoàng làng.
Lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc tế tại
các hội chợ
Marseille
(1931) và
Paris (1938),
được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc
Pháp, rất được ưa chuộng tại các nước Pháp, Thái Lan, Indonesia... Từ 1958 đến
1988, sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất sang các nước Đông Âu; từ 1990
xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên thế giới, thu ngoại tệ về cho đất nước.
Ngày nay, lụa Vạn Phúc qua các thế hệ, những nghệ
nhân và thợ dệt đã không ngừng cải tiến, nâng cao kỹ thuật sản xuất. Bởi thế,
lụa Vạn Phúc dù ở loại nào cũng đạt tới mức hoàn mỹ, mịn óng, mềm mại với màu
sắc óng ánh, đường nét tinh tế khi nổi khi chìm, có loại trang nhã, có loại rực
rỡ.
Trải qua bao thế hệ, lụa Vạn Phúc vẫn luôn giữ được
những thủ pháp nghệ thuật truyền thống. Hoa văn bao giờ cũng trang trí đối xứng,
đường nét trang trí không rườm rà, phức tạp mà luôn mềm mại, phóng khoáng, dứt
khoát. Bởi vậy, lụa Vạn Phúc không chỉ được ưa chuộng ở trong nước mà đã vượt ra
ngoài lãnh thổ Việt Nam tới tay những người sành điệu bốn phương.
16. LÀNG CỔ
ĐƯỜNG LÂM
Địa chỉ: Sơn Tây, Hà Nội
Đường Lâm là một xã thuộc
thị xã Sơn Tây,
Hà Nội. Đường Lâm trở thành làng cổ đá ong đầu tiên ở
Việt Nam được
Nhà nước trao
bằng Di tích Lịch sử Văn hóa quốc gia ngày
19 tháng 5 năm
2006. Đây là
nơi sản sinh ra nhiều danh nhân như
vua
Ngô Quyền, Bố
Cái Đại vương
Phùng Hưng,
Thám hoa
Giang Văn Minh,
bà Man Thiện (mẹ của
hai Bà Trưng),
bà chúa Mía (người xây chùa Mía, vương phi của chúa
Trịnh Tráng),
Khâm sai đại thần, Bộ trưởng Nội vụ, Phó Thủ tướng
Phan Kế Toại,
Thám hoa
Kiều Mậu Hãn,
họa sĩ
Phan Kế An...
Chính vì vậy, Đường Lâm còn được gọi là đất hai vua - Ngô Quyền và Phùng Hưng.
Đường Lâm gồm 9 làng, trong đó 5 làng Mông Phụ, Đông
Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp và Cam Lâm liền kề nhau. Các làng này gắn kết với
nhau thành một thể thống nhất với phong tục, tập quán, và tín ngưỡng hàng ngàn
năm nay không hề thay đổi. Ngày nay, làng Đường Lâm vẫn giữ được hầu hết các đặc
trưng cơ bản của một ngôi làng
người Việt với
cổng làng,
cây đa, bến
nước, sân
đình,
chùa,
miếu,
điếm canh,
giếng nước,
ruộng nước,
gò
đồi. Hệ thống
đường xá của Đường Lâm rất đặc biệt vì chúng có hình xương
cá. Với cấu
trúc này, nếu đi từ đình sẽ không bao giờ quay lưng vào cửa Thánh.
Một điểm đặc biệt là Đường Lâm còn giữ được một cổng
làng cổ ở làng Mông Phụ. Đây không phải là một cổng làng như các cổng làng khác
ở vùng
Bắc Bộ có gác
ở trên mái với những
mái vòm cuốn
tò vò mà chỉ
là một ngôi nhà hai mái đốc nằm ngay trên đường vào làng. Cũng ở làng Mông Phụ
có
đình Mông Phụ
- được xây dựng năm
1684 (niên
hiệu Vĩnh Tộ đời
vua
Lê Hy Tông) -
là ngôi
đình đặc trưng
cho đình Việt truyền thống. Sân đình thấp hơn mặt bằng xung quanh nên khi trời
mưa, nước chảy vào sân rồi thoát ra theo hai cống ở bên tạo thành hình tượng hai
râu
rồng. Hàng
năm, đình tổ chức lễ hội từ mùng Một đến mùng Mười
tháng Giêng
âm lịch với
các trò chơi như thi
lợn thờ, thi
gà thờ...
Trong số 8
di tích lịch sử - văn hóa
ở Đường Lâm (có đình Mông Phụ),
chùa Mía (tức
Sùng Nghiêm tự) được
Bộ Văn hóa - Thể
thao và Du lịch xếp vào loại đặc biệt. Chùa có 287 pho
tượng gồm 6
tượng
đồng, 107
tượng gỗ và 174 tượng
đất (làm từ
đất sét, thân
và rễ
cây si).
17. GỐM
BÁT TRÀNG
Địa chỉ: Làng Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội
Gốm Bát Tràng là tên gọi chung cho các loại đồ gốm
được sản xuất tại làng Bát Tràng, một làng gốm cổ truyền và nổi tiếng của
Việt Nam. Xã
Bát Tràng gồm hai thôn Giang Cao và Bát Tràng thuộc huyện
Gia Lâm,
Hà Nội. Theo
nghĩa Hán Việt, chữ Bát nghĩa là chén bát, đồ gốm và chữ “Tràng” (hay Trường) là
chỗ đất dành riêng cho chuyên môn.
Có nhiều giả thuyết về sự ra đời của làng gốm Bát
Tràng, trong đó có một giả thuyết đáng được quan tâm là làng gốm Bát Tràng được
hình thành từ thời hậu Lê, từ sự liên kết chặt chẽ giữa 5 dòng họ làm gốm nổi
tiếng của làng Bồ Bát như Trần, Vương, Nguyễn, Lê, Phạm với họ Nguyễn (Nguyễn
Ninh Tràng) ở đất Minh Tràng.
Từ khi những sản phẩm của làng gốm Bát Tràng ra đời
đã được các bậc vương giả quyền quý ở kinh thành Thăng Long cho đến nông phu
chân lấm tay bùn ở thôn quê đều ưa chuộng. Không những thế, nhiều đồ gia dụng
thường ngày ở Bát Tràng còn vượt ra biên giới đất Việt. Từ thế kỷ XV, đồ gốm Bát
Tràng có mặt trong lễ vật triều cống cho các hoàng đế Trung Hoa-nơi có truyền
thống làm gốm sứ từ hàng ngàn năm trước và nổi tiếng khắp thế giới. Từ đó về
sau, thời đại nào, dù suy hay thịnh, thì làng gốm Bát Tràng vẫn khẳng định giá
trị hàng hóa của mình, nghề gốm vẫn trụ vững và vượt qua mọi thử thách.
Từ vài thập kỷ nay, sức sống của làng nghề truyền
thống vẫn được thổi lên bởi ngàn lò gốm cháy rực suốt ngày đêm. Hiện nay, ở Bát
Tràng nhiều lò gốm đã không dùng than, củi hay rơm rạ để đốt lò mà đã dùng lò
công nghiệp đốt bằng ga nên hạn chế được sự ô nhiễm môi trường đồng thời cũng
giảm được lượng phế phẩm.
Theo các nghệ nhân của làng, đề tài phổ biến của các
sản phẩm gốm Bát Tràng là hình rồng, phượng, câu đối, hoa văn, cảnh người, cảnh
hoa, cảnh thiên nhiên... đều phản ánh đời sống tâm linh và triết lý của con
người Việt Nam.
Từ các thế kỷ trước, gốm Bát Tràng chủ yếu là đồ
thờ. Về sau gốm Bát Tràng đã có nhiều đồ gia dụng, phổ biến nhất là bát, đĩa,
bình, lọ, ấm chén. Và ngày nay, gốm Bát Tràng đã có khá nhiều mặt hàng phong phú
về chủng loại và kiểu dáng, bao gồm cả những mặt hàng mỹ nghệ như đĩa treo
tường, lọ hoa, con giống, tượng phiên bản và phù điêu với kỹ thuật và công nghệ
cao. Các bộ sưu tập gốm sứ Bát Tràng đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật và kỹ
thuật chế tạo đồ gốm sứ ở Việt Nam.
Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng không những nổi tiếng
trong cả nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới từ năm 1990
như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và các nước trong khối EU. Nhiều sản phẩm gốm cổ Bát
Tràng đang được lưu trữ tại một số viện bảo tàng lớn trên thế giới như Viện Bảo
tàng Royaux - Bỉ, Viện Bảo tàng Guimet - Pháp.
Mới đây, Hiệp hội Gốm sứ Bát Tràng đã thành lập
Trung tâm xúc tiến xuất khẩu Bát Tràng và tiến hành xây dựng thương hiệu "Bát
Tràng Việt Nam - 1000 năm truyền thống".
Hàng năm, lễ hội làng Bát Tràng được tổ chức vào ngày 15 tháng 2 (âm lịch) và
thường kéo dài 7 ngày.
18
.THÀNH CỔ LOA
Vị trí: Thuộc địa phận xã Cổ Loa, huyện Đông Anh,
nằm bên quốc lộ số 3, cách trung tâm Hà Nội 17km về phía Bắc.
Đây là vùng đất đô thành của nước Âu Lạc, thế kỷ III
trước Công nguyên, của triều đại An Dương Vương và là kinh đô đầu tiên của Nhà
nước phong kiến độc lập với vua Ngô Quyền vào năm 939.
Thành Cổ Loa do An Dương Vương xây dựng, theo truyền
thuyết có 9 lớp thành, nay chỉ còn dấu vết của ba lớp: thành trong, thành giữa
và thành ngoài lồng vào nhau. Cả ba vòng thành dài khoảng 16 km, rộng hơn 400ha.
Sông Thiếp tức Hoàng Giang làm hào thiên nhiên bao quanh, trước còn nối với sông
Hồng và sông Cầu, nên Cổ Loa đã từng là cảng lớn của nước ta.
Với chiều cao trung bình của tường thành nay là 5m,
mặt rộng từ 6 đến 12m, chân thành từ 20 đến 30m, chỉ tính 3 vòng thành còn lại
khối lượng đất đắp đã trên 2 triệu m3, chứng tỏ Cổ Loa là một công
trình xây dựng đồ sộ, một thành tựu lao động to lớn của nhân dân ta thời xưa. Về
mặt quân sự, thành Cổ Loa là một công trình phòng ngự kiên cố và lợi hại. Mặt
ngoài thành dựng đứng như bức tường cản giặc. Mặt trong thoai thoải gần thành
những bậc thang để quân lính đi lại tuần tra canh gác và vận động lên mặt thành
nhanh chóng. Phía ngoài sát chân thành có hào sâu nối với sông Hoàng trở thành
những đường vận chuyển của quân thuỷ rất lợi hại. Cấu trúc của thành Cổ Loa cũng
đặc biệt. Thành trong cùng là một hình chữ nhật cân xứng. Còn hai vòng thành
ngoài không có hình dáng rõ rệt, khoảng cách giữa các vòng cũng không đều, cho
nên nhìn chung như xoáy ốc vì vậy mà có tên là Loa thành (Thành ốc). Những di
tích phụ thuộc vào thành cổ còn có Gò Cột Cờ, Ngự Xạ Đài, Gò Đống Sắn, Gò Đống
Chuông, Gò Đống Giáo, Gò Pháo Đài… những vọng gác được gọi là "hoả hồi" và dấu
vết các cửa thành.
Truyền thuyết kể rằng: Khi xây Thành ốc cứ đắp thành
cao lại đổ phải nhờ có Trấn Tiên Huyền Vũ trừ yêu gà trắng, thành mới xây xong.
Sau lại có thần Kim Quy hiện lên ở sông Hoàng, chỗ này có chiếc cầu đá vào chợ
Sa, thần cho móng làm lẫy nỏ thần để giữ nước.
Sau 50 năm trị vì, vua Thục mắc mưu Triệu Đà cho con
là Trọng Thuỷ sang cầu hôn công chúa Mỵ Châu và ở rể. Trọng Thuỷ đánh cắp nỏ
thần để vua cha đem quân sang cướp nước Âu Lạc. Ngày quân Triệu chiến thắng cũng
là ngày bi thảm của mối tình Mỵ Châu - Trọng Thủy.
Đền Thục An Dương Vương, xây dựng năm 1687 đời Lê Hy
Tông, sửa lại năm 1689 thường gọi là Đền Thượng, đứng trên một quả đồi xưa có
cung thất của vua. Cửa đền có hai con rồng đá uốn khúc, tay vuốt râu, nghệ thuật
điêu khắc thời Lê. Nhà bia có 3 tấm bia đá khắc năm 1606. Trong đền có đôi ngựa
hồng làm năm 1716, tượng đồng vua Thục năm 1897, nặng 255kg.
Giếng Ngọc, nằm ngay trước đền, là một hồ hình bán
nguyệt, giữa đắp bờ tròn tạo thành giếng ngọc. Tương truyền đây là nơi sau khi
phản bội, Trọng Thuỷ tự tử, nước giếng này đem rửa ngọc trai thì ngọc sáng đẹp
bội phần, cho nên thành tên.
Am Bà Chúa, tượng bà chúa Mỵ Châu là một hòn đá tự
nhiên có hình dáng người cụt đầu. Huyền thoại kể rằng: Sau khi Mỵ Châu hóa thành
hòn đá to trôi dạt về bãi Đường Cấm, ở phía Đông thành Cổ Loa. Dân trong thành
đem võng ra cáng về đến gốc đa thì đứt võng, hòn đá rơi xuống, bèn lập am thờ
ngay tại chỗ. Trên tường am có bức hoành khắc bài thơ chữ Hán của nhà thơ Chu
Mạnh Trinh.
Dinh Ngự Triều Di Quy, xây dựng trên nền điện thiết
triều cũ, năm 1907 thời Nguyễn. Dáng vóc vững chãi, bề thế, mái đao vút cong.
Cột đình có đôi câu đối của Tôn Thất Thuyết, một thủ lĩnh Cần Vương chống Pháp.
Hội đền Cổ Loa tổ chức vào đầu xuân hàng năm. Cổ Loa
còn là một khu di chỉ khảo cổ quan trọng với nhiều hiện vật đã được khai quật
thời kỳ đồ đá, đồ đồng… chứng minh đây là nơi cư trú của những người nguyên
thủy, mới đây lại tìm thấy trống đồng ở ngay khu thành nội. Những di tích quý
giá đó càng làm cho Cổ Loa có bề dày lịch sử, thật đáng trân trọng, thật đáng tự
hào.
19. THÀNH CỔ SƠN TÂY
Địa chỉ: Thị xã Sơn Tây, Hà Nội
Thành cổ Sơn Tây là một tòa thành quân sự kiến trúc
bằng
gạch đá ong
(là loại vật liệu xây dựng đặc thù của vùng Sơn Tây, Thành được xây dựng vào năm
1822 triều vua
Minh Mạng
nhà Nguyễn,
tại thủ phủ của trấn Sơn Tây (sau là tỉnh
Sơn Tây).
Thành đồng thời từng là thủ phủ của vùng Tam tuyên (3 tỉnh Sơn Tây,
Hưng Hóa,
Tuyên Quang
thời nhà Nguyễn), vì
Tổng đốc Tam
tuyên cũng thường kiêm lý
Tuần phủ Sơn
Tây và lỵ sở Tổng đốc Tam tuyên chính là thành Sơn Tây. Thành cổ này, trong
khoảng thập kỷ 70 - 80 của
thế kỷ XIX, là
một trung tâm phòng bị kháng chiến chống
Pháp của quan
lại triều đình nhà Nguyễn (với những nhân vật lãnh đạo như:
Hoàng Kế Viêm,
Lưu Vĩnh Phúc,...).
Ngày nay, tòa thành này vẫn còn tồn tại ở trung tâm thị xã
Sơn Tây,
Hà Nội và trở
một di tích lịch sử và kiến trúc quân sự.
Thành cổ Sơn Tây được kiến trúc theo
kiểu Vauban
(kiểu công trình quân sự lấy theo tên kỹ sư
Vauban người
Pháp), tường thành chạy theo đường gãy khúc, nhưng tổng thể có hình vuông, mỗi
cạnh dài khoảng 400
m, diện tích
khoảng 16
ha, chiều cao
tường thành khoảng 5 m. Ngoài thành là hào nước sâu 3 m, rộng tới 20 m và dài
khoảng 1.795 m, được nối ra
sông Tích Giang
tại góc thành phía Tây Nam (bởi cống Ba Quân), bốn mặt thành có các cổng vòm
bằng đá ong. Tường thành nằm ở khoảng tọa độ 21°08'11,11" - 21°08'28,76" Vĩ Bắc
và 105°30'07,49" - 105°30'26,48" Kinh Đông. Thành nằm giữa thị xã Sơn Tây, trên
phần đất của hai làng cổ là Thuần Nghệ và Mai Trai, cách trung tâm
Hà Nội khoảng
42
km. Thành có 4
cửa quay ra các hướng Bắc (chính xác là hướng Bắc Đông Bắc), Nam, Tây, Đông, và
lần lượt có tên là: cửa Hậu, cửa Tiền, cửa Hữu, cửa Tả. Hai cửa chính là cửa
Tiền và cửa Hậu, có cầu bắc qua hào nước, dẫn vào cổng thành. Trục kiến trúc
chính của thành là trục nối hai cửa Tiền và Hậu, theo hướng Bắc Đông Bắc - Nam
Tây Nam. Cửa Tiền nhìn ra phố Quang Trung. Cửa Hậu hướng ra phố Lê Lợi (nơi đặt
trụ sở
Ủy ban Nhân dân
thị xã Sơn Tây), thẳng tới bờ
sông Hồng. Cửa
Tả nhìn ra
chợ Nghệ (phố
Phùng Khắc Khoan). Cửa Hữu hướng ra phố Trần Hưng Đạo (Đệ Nhị cũ), phố này nối
với phố Ngô Quyền, chạy thẳng lên làng cổ
Đường Lâm
(theo
quốc lộ 32).
Trong thành có các hạng mục kiến trúc: cột cờ (tức vọng lâu) cao 18m, vọng cung,
điện Kính Thiên, hai ao sen (còn gọi là giếng Tả và giếng Hữu) phía trước khu
nghi lễ (Đoan Môn, sân chầu, điện Kính Thiên), gần với cửa Tiền. Điện Kính Thiên
ở đây từng là tòa nhà 5 gian, tám mái chồng diêm, nằm khoảng chính giữa thành,
là nơi làm việc của các vua nhà Nguyễn mỗi khi tuần du xứ Đoài của Bắc Kỳ. Cửa
Hữu quay ra hướng Tây Tây Bắc hiện còn nguyên vẹn nhất. Cửa Tiền cũng còn tương
đối nguyên vẹn, nhưng hai cửa Tả, Hậu thì bị đổ nát (riêng cửa Hậu thì được xây
lại mới bằng đá ong nhưng với kỹ thuật xây hiện đại nên đã bị mất tính cổ kính
của một di tích).
20. NHÀ THỜ LỚN
Địa chỉ: 40 Nhà Chung, Hà Nội
Xây dựng trên khu đất cao vốn
là chân tháp Bảo Thiên nổi tiếng của Thăng Long có từ thời Lý Thánh Tông (1054 -
1072). Nhà thờ Lớn khánh thành đúng vào lễ Giáng sinh năm Đinh Hợi (1887). Đây
là một kiến trúc khá đồ sộ. Hai gác chuông hai bên cao 30m với những trụ đá to
nặng bốn góc. Trên đỉnh là cây thánh giá bằng đá. Nhà thờ được thiết kế theo
kiểu kiến trúc Gôtích rất thịnh hành trong thế kỷ XII và thời Phục hưng ở châu
Âu. Ngoài các lễ trọng của công giáo về Chúa Giêsu và Đức mẹ, xứ đạo Hà Nội còn
tổ chức lễ rước Thánh Quan Thầy của địa phận Hà Nội là Giuse vào ngày 19 tháng 3
hàng năm.
Nhà thờ Lớn Hà Nội hay Nhà thờ Chính tòa Hà Nội, là
một nhà thờ cổ tại
Hà Nội. Nơi
đây thường xuyên diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của các
giáo dân Hà
Nội thuộc
Tổng Giáo phận Hà Nội.
21. PHỐ CỔ
HÀ NỘI
Khu vực phố cổ của Hà Nội nằm
trong diện tích khoảng 100 ha, thuộc trong địa phận của quận Hoàn Kiếm. Nếu nhìn
trên phương diện hình học, thì khu vực phố cổ có hình như một hình tam giác mà
các cạnh của nó được giới hạn bởi phố Hàng Than, phía Đông quay ra hướng sông
Hồng, phía Tây là các phố Hàng Cót, Hàng Điếu, Hàng Da với trục chính gồm các
phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ. Những chứng tích lịch sử đã chỉ ra rằng, phố cổ
Hà Nội đã có ngay từ khi thành Thăng Long được tái thiết, tức là khoảng gần một
nghìn năm trước. Hầu hết các ngôi nhà hiện nay nằm trong khu vực “phố cổ hiện
nay” đều nằm ngoài rìa, nhưng chúng cũng có “tuổi đời” chừng trên trăm năm, có
một diều là những ngôi nhà cổ trong khu vực này hiện không giữ được cái “vẻ cổ
kính” như con số tuổi tác của chúng. Chính điều này đã làm cho cái nhìn tổng thể
về phố cổ bị sai lệch đi khá nhiều. Chính vì thế, sự mô tả chi tiết, sự tái hiện
và khôi phục phố cổ đòi hỏi những nỗ lực rất lớn.
22. BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH
Địa chỉ: Bảo tàng Hồ Chí Minh được xây dựng ở
phía sau Lǎng Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặt chính hướng ra đường Hùng Vương
Bảo tàng Hồ Chí Minh là một bảo tàng vào loại lớn
nhất của Việt Nam. Bảo tàng tập trung chủ yếu vào việc trưng bày những hiện vât,
tư liệu về cuộc đời và con người Chủ tich Hồ Chí Minh. Bảo tàng nằm trong khu
vực có nhiều di tích như: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu di tích Phủ Chủ tịch,
chùa Một Cột... tạo thành một quần thể các di tích thu hút khách thăm quan trong
và ngoài nước. Bảo tàng Hồ Chí Minh là một công trình vǎn hoá lớn được xây dựng
theo nguyện vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam để tưởng niệm vị lãnh tụ vô cùng
kính yêu của mình - Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng Giải phóng dân tộc, nhà vǎn
hoá kiệt xuất. Công trình được khánh thành ngày 19/5/1990, đúng vào kỷ niệm 100
nǎm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là thể hiện lòng biết ơn và đời
đời ghi nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quyết tâm của nhân dân
Việt Nam kế tục trung thành sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người, đoàn kết phấn
đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh, hợp tác và hữu nghị với nhân dân thế giới.
23. BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT
NAM
Địa chỉ: 28A Điện Biên Phủ, Q. Ba Đình, Hà Nội
Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, trước đây gọi là
Bảo tàng Quân đội, là viện bảo tàng về lịch sử quân sự Việt Nam, mở cửa lần đầu
vào dịp kỷ niệm 15 năm thành lập
Quân đội Nhân dân Việt
Nam (22
tháng 12 năm
1959) trên
diện tích đất khoảng 10.000m². Diện tích trưng bày là 2.000m².
Bảo tàng trưng bày những hiện vật và tài liệu giới
thiệu quá trình ra đời và trưởng thành của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt
Nam qua các thời kỳ lịch sử.
Nội dung trưng bày chia làm 6 phần:
- Lịch sử của dân tộc và sự ra đời của Quân đội Nhân
dân Việt Nam
- Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
- Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ
- Quân đội Việt Nam tiến lên chính quy hiện đại
- Quân dân một lòng - bách chiến bách thắng
- Khu trưng bày ngoài trời có máy bay, xe tăng,
trọng pháo, thiết giáp, tên lửa, súng cối, bom... đều là những hiện vật có kích
thước lớn.
Bảo tang còn trưng bày những bản đồ, sa bàn về chiến
dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, những hiện vật quý về các
trận đánh và những chiến sỹ anh hùng trong lực lượng vũ trang.
24. BẢO TÀNG MỸ THUẬT
Địa chỉ: Số 66 phố Nguyễn Thái Học, quận Ba Đình,
Hà Nội.
Bảo tàng lưu giữ và trưng bày các tác phẩm, mỹ thuật
có giá trị của các hoạ sĩ, nhà điêu khắc của Việt Nam qua nhiều thế hệ. Giới
thiệu quá trình hình thành và phát triển của Mỹ thuật Việt Nam. Hệ thống trưng
bày được chia thành 3 phần chính:
- Mỹ thuật thời tiền sử - sơ sử, gồm các hiện vật từ
thời đồ đá, đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt.
- Mỹ thuật cổ từ thế kỷ XI - XIX, thuộc các triều
đại từ Lý, Trần, Lê đến Mạc, Tây Sơn và Nguyễn.
- Mỹ thuật thế kỷ XX, mỹ thuật cận đại (1925 - 1945)
và hiện đại (1945 đến nay).
Bên cạch các sưu tập được trưng bày theo tiến trình
lịch sử, tại đây còn giới thiệu 2 bộ sưu tập:
- Mỹ thuật dân gian.
- Nghệ thuật gốm Việt Nam.
25. BẢO TÀNG CÁCH MẠNG
Địa chỉ: 25 Tông Đản, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là nơi tái hiện
lịch sử đấu
tranh hàng trăm năm qua của nhân dân
Việt Nam chống
phong kiến,
chống
Pháp, chống
Nhật, chống
Mỹ, giành lại
nền độc lập tự do cho Việt Nam.
Tháng 12 năm
1954, sau 2
tháng trở về
Hà Nội,
Hội đồng Chính phủ
(nay là Chính phủ) quyết định xây dựng Viện Bảo tàng Cách mạng. Từ đây việc thu
thập hiện vật được tiến hành trên khắp
miền Bắc và
tới ngày mùng
6 tháng 1 năm
1959, Viện Bảo
tàng Cách mạng Việt Nam làm lễ khánh thành. Nội dung trưng bày gồm ba phần.
Phần thứ nhất: Thời kỳ đấu tranh giành độc
lập của nhân dân Việt Nam từ 1858 đến 1945.
Phần thứ Hai: Cuộc kháng chiến chống các thế
lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc từ 1945 đến 1975.
Phần thứ Ba: Việt Nam trên con đường xây dựng
dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh từ 1975 đến nay.
26. BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC
Địa chỉ: Ðường Nguyễn Văn Huyên, quận Cầu Giấy,
Hà Nội.
Nằm trên một khu đất rộng 3ha, Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam được khai trương vào cuối năm 1997, lưu giữ các hiện vật, tài liệu phản
ánh mọi mặt đời sống, sinh hoạt, phong tục tập quán của 54 dân tộc trên khắp cả
nước. Ngay từ khi ra đời, nơi đây đã thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều khách
du lịch và các nhà nghiên cứu văn hoá, dân tộc học trong nước và quốc tế.
Bảo tàng Dân tộc học lưu giữ 10.000 hiện vật, 15.000
ảnh đen trắng, hàng trăm băng video, băng cát-sét phản ánh mọi mặt đời sống,
sinh hoạt, phong tục, tập quán của 54 dân tộc trên khắp đất nước Việt Nam.
Hiện vật trưng bày được sắp xếp, bố trí một cách
khoa học, dễ hiểu, dễ cảm thụ.
Khu trưng bày thường xuyên trong nhà có diện tích 2.500m² (bao gồm 2 tầng) được
chia làm 8 phần:
- Giới thiệu chung
- Giới thiệu dân tộc Việt (Kinh)
- Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày, Thái và Ka dai
- Các dân tộc nhóm ngôn ngữ H' Mông, Dao, Tạng, Sán
Dìu, Ngái.
- Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer.
- Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo.
- Các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer.
- Giao lưu, hội nhập giữa các dân tộc.
Khu trưng bày ngoài trời giới thiệu những phong cách
kiến trúc đặc trưng nhất của các dân tộc Việt Nam. Hiện tại đã có trưng bày về
ngôi nhà dài Ê-Đê, nhà sàn Tày, ngôi nhà nửa sàn và nửa trệt của người Dao, nhà
mái lợp bằng gỗ pơ-mu của người H'Mông, ngôi nhà Việt với mái lợp ngói, ngôi nhà
mồ Gia-Rai, nhà Rông của người Ba-Na, ngôi nhà Chăm và ngôi nhà đất trình tường
của người Hà Nhì.
27.
GÒ ĐỐNG ĐA
Địa chỉ: Phố Sơn Tây, Đống Đa, Hà Nội
Gò Đống Đa là một gò nằm bên đường phố Tây Sơn,
phường Quang Trung,
quận Đống Đa,
thành phố
Hà Nội. Tại
đây năm
1789 quân
Tây Sơn đã đại
phá và đánh thắng quân Thanh trong
trận Ngọc Hồi - Đống Đa.
Đêm 4 rạng ngày 5 tháng Giêng năm
Kỷ Dậu (1789),
trận đánh của quân Tây Sơn diễn ra với sự tham gia của nhân dân vùng Khương
Thượng, do Đô đốc Long (còn có tên là
Đặng Tiến Đông)
chỉ huy. Trận này diệt tan đồn Khương Thượng của quân
nhà Thanh.
Tướng nhà Thanh là
Sầm Nghi Đống
phải treo cổ tự tử ở núi Ốc (Loa Sơn) gần
chùa Bộc bây
giờ. Trận đánh đã mở đường cho đại quân Tây Sơn từ
Ngọc Hồi thừa
thắng tiến vào
Thăng Long.
Sau chiến thắng, vua
Quang Trung
cho thu nhặt xác giặc xếp vào 12 cái hố rộng, lấp đất chôn và đắp cao thành gò
nhằm biểu dương chiến công của quân và dân nước nhà cũng như để cảnh cáo các lực
lượng xâm lược.
12 gò này nằm giải rác từ làng Thịnh Quang đến làng
Nam Đồng, trên các gò cây cối mọc um tùm nên có tên là Đống Đa. Năm
1851, do mở
đường mở chợ, đào xẻ nhiều nơi thấy nhiều hài cốt, lại cho thu vào một hố cao
lên nối liền với núi Xưa, thành gò thứ 13, tức là gò còn lại hiện nay. Còn 12 gò
khác đã bị phạt đi trong thời gian người
Pháp mở rộng
Hà Nội năm
1890.
Chiến thắng Đống Đa cùng với chiến thắng Ngọc Hồi -
Đầm Mực dưới sự chỉ huy của Quang Trung đã phá tan 20 vạn quân Thanh, giải phóng
thành Thăng.
Hàng năm cứ vào ngày mồng 5
Tết, nhân dân
thường tổ chức hội gò Đống Đa để ôn lại những sự kiện lịch sử đã diễn ra tại nơi
đây, đặc biệt có tục rước rồng lửa đã thành lễ hội truyền thống của người Hà
Nội.
28. VƯỜN HOA CHÍ LINH-TƯỢNG ĐÀI LÝ
THÁI TỔ
Địa chỉ: Nằm giữa phố Đinh Tiên Hoàng – Lê Lai –
Lê Thạch
Vườn hoa Chí Linh từng mang tên Vườn hoa Paul Bert
(do thực dân Pháp đặt). Tới năm 1945, Đốc lý Hà Nội là ông Trần Văn Lai quyết
định thay đổi hoàn toàn các tên phố và vườn hoa từ tên tiếng Pháp bằng các danh
nhân Việt. Đốc lý Lai ý thức được khu vườn hoa Chí Linh, Bờ Hồ liên quan đến
truyền rùa thần trả gươm cho Lê Lợi. Do vậy, những tuyến phố quanh khu vực này
vinh dự được mang danh các vị anh hùng: Nguyễn Xí, Trần Nguyên Hãn, Lê Lai, Đinh
Lễ, Đinh Liệt… là các danh tướng của phong trào Lam Sơn.
Phía Tây tỉnh Thanh Hoá (quê hương của Lê Lợi) có
một vùng được gọi theo tiếng dân tộc Thái là Pù Linh (chuyển sang tiếng Việt là
Chí Linh). Đây chính là nơi trong thời gian khởi đầu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê
Lợi đã mấy lần phải lui quân về lánh nạn. Núi rừng Pù Linh cũng chính là nơi
diễn ra vụ Lê Lai đóng giả Lê Lợi. Bởi vậy, Đốc Lai quyết định đổi tên Vườn hoa
Paul Bert thành Vườn hoa Chí Linh.
Tượng đài Lý Thái Tổ đặt tại vườn hoa Chí Linh, nhìn
ra hồ Hoàn Kiếm, trung tâm thủ đô Hà Nội; khánh thành ngày 7/10/2004, do nhà
điêu khắc Vi Thị Hoa sáng tác, Công ty TNHH Mỹ nghệ Đoàn Kết tỉnh Nam Định thực
hiện bằng đồng nguyên chất, đúc liền khối, nặng 32 tấn (tượng 12 tấn, bệ 20
tấn), cao 10,1 m (tượng cao 6,8 m, bệ cao 3,3 m), là một công trình kiến trúc
văn hoá đẹp, nhằm tôn vinh vị vua Lý Thái Tổ (974 - 1028), người khởi lập và tạo
dựng nên mảnh đất ngàn năm văn hiến, đồng thời là công trình chào mừng 50 năm
giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2004), tiến tới kỉ niệm 1000 năm Thăng
Long - Hà Nội (1010 - 2010).
KHU DU LỊCH, SINH
THÁI
1. VƯỜN QUỐC
GIA BA VÌ
Địa chỉ: xã Tản Lĩnh, Ba Vì, Hà
Nội
Vườn quốc gia Ba Vì là khu rừng nguyên sinh nằm trên
độ cao từ 100 - 1.296m của dãy núi Ba Vì hùng vĩ. Rừng có hệ thực vật nhiệt đới
và á nhiệt đới khá điển hình ở Việt Nam, bốn mùa cây cối xanh tươi, khí hậu mát
mẻ, trong lành. Hơn thế Vườn quốc gia Ba Vì được mệnh danh là “Lá phổi của thủ
đô Hà Nội”. Rừng Ba Vì còn là nơi sinh sống của hàng trăm loài động vật hoang
dã, có rất nhiều loài quý, hiếm có tên trong Sách đỏ của Việt Nam.
Tổng diện tích Vườn quốc gia Ba Vì rộng 11.372 ha.
Do địa hình núi cao, độ che phủ của rừng lớn tạo cho vùng Ba Vì có khí hậu rất
mát mẻ và trong lành, nhất là vào mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 10 dương lịch).
Về mùa đông mây mù bao phủ tạo một cảnh quan rất ấn tượng.
Hệ thực vật khu vực Ba Vì có 862 loài thực vật bậc
cao thuộc 427 chi và 114 họ. Theo các nhà khoa học nơi đây có thể tìm thấy rất
nhiều loại thực vật nữa để bổ sung vào bảng danh mục của Vườn quốc gia. Có 15
loài cây quý, hiếm như: bách xanh, thông tre, xỉ ba mũi, sến lá bạc, hoa tiên,
dương xỉ thân gỗ…
Khu vực Vườn quốc gia Ba Vì có 55 loài thú, 139 loài
chim, 27 loài lưỡng cư, 41 loài bò sát, 552 loài côn trùng. Trong đó có 23 loài
quý, hiếm có trong sách đỏ như: cu li lớn, gấu ngựa, tê tê vàng, công, gà lôi
trắng…
Được sự ưu ái của thiên nhiên về địa hình, khí hậu
đã tạo cho Vườn quốc gia Ba Vì trở thành 1 trong 4 khu du lịch sinh thái vùng
núi cao nổi tiếng (Đà Lạt, Sa Pa, Ba Vì, Tam Đảo). Không những thế vùng núi Ba
Vì còn là nơi du lịch tâm linh của người Việt. Hàng năm Vườn quốc gia Ba Vì đón
vài chục nghìn lượt người đến tham quan và học tập.
2. KHOANG
XANH – SUỐI TIÊN
Địa chỉ: xã Vân Hòa, Ba Vì, Hà Nội
Khoang Xanh - Suối Tiên là khu du lịch sinh thái tại
Ba Vì,
Hà Nội. Khoang
Xanh nằm ở sườn phía Đông của
núi Ba Vì,
trong một khu vực có
rừng nguyên sinh,
cách thủ đô
Hà Nội khoảng
50 km về phía Tây Bắc, gần
Sơn Tây. Khu
du lịch này bao gồm 4 phân khu, trong đó có khoảng 200 ha rừng nguyên sinh và có
trên 2 km
suối tự nhiên.
Khoang
Xanh - Suối Tiên còn là nơi nói về truyền thuyết Sơn Tinh - Thuỷ Tinh. Sau khi
giúp Sơn Tinh đánh thắng Thuỷ Tinh, công chúa Ngọc Hoa vùng với các tiên nữ
thường hay xuống tắm ở suối này. Ngày nay nơi đây còn nhiều dấu tích…
3. AO VUA
Địa chỉ: xã Tản Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội
Ao Vua chỉ nằm cách Hà Nội khoảng chừng hơn 60km,
nơi đây đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn, thu hút hàng trăm ngàn khách tham
quan trong và ngoài nước mỗi năm. Khu du lịch sinh thái Ao Vua trải dài dưới
chân núi Tản Viên với những câu chuyện đầy huyền tích như câu chuyện Hùng Duệ
Vương, công chúa Ngọc Hoa, Thần núi Sơn Tinh, Thần nước Thủy Tinh với cuộc chiến
long trời lở đất của hai vị Thần mãi mãi là những truyền thuyết đẹp nhất của
người Việt.
Du lịch Ao Vua đầy hấp dẫn và thú vị với cảnh quan
hùng vĩ, thơ mộng, môi trường sinh thái trong trẻo, không gian đậm chất nhân
văn. Hiện khu du lịch Ao Vua đang được đầu tư mở rộng quy mô: vườn chim thú,
vườn truyền thuyết cổ tích, vườn tượng châu Âu, trồng thêm những loài cây quý...
để hoàn thiện hệ sinh thái rừng. Ðến Ao Vua, du khách sẽ hài lòng vì ngoài việc
được du ngoạn, khi về còn có thể mua nhiều loại sản phẩm du lịch, trong đó có
những lọ hoa mỹ nghệ làm bằng nguyên liệu tre nứa rất độc đáo.
4.
ĐẦM LONG
Địa chỉ: xã Bằng Tạ, Sơn Tây, Hà Nội
Khu
du lịch sinh thái Đầm Long nằm ở vị trí trung tâm của quần thể du lịch Ba Vì,
nằm trong khu rừng nguyên sinh Bằng Tạ là điểm thu hút du khách đến đây hưởng
cuộc sống gần gũi với thiên nhiên. Với diện tích 70 hecta, gồm 50 hecta là mặt
nước và 20 hecta là rừng cùng với hệ thực vật rất phong phú và đa dạng với 387
loại thực vật thuộc 252 chi, 94 họ của 4 ngành thực vật bậc cao. Có 240 loài cây
thuộc 8 nhóm sử dụng khác nhau, trong đó có rất nhiều cây hàng trăm năm tuổi
như: đinh, lim, chò… Phong phú nhất là nhóm cây thuốc nam quý, có tới 76 loài
thuốc nam.
Ngoài hệ thực vật phong phú còn có 69 loài chim, 22
loài bò sát và 69 loài côn trùng khác nhau. Tới đây mọi ồn ào của phố xá như
được bỏ lại sau lưng khi du khách được hoà mình vào với thiên nhiên và thoả
thích ngắm những dãy núi nhấp nhô xen cùng những cánh rừng già hiện ra trước mắt
tạo một khoảng không gian tĩnh lặng trong lành và thoáng đãng.
5. THIÊN SƠN
SUỐI
NGÀ
Địa chỉ: Ba Vì, Hà Nội
Thiên Sơn - Suối Ngà nằm ở phía Đông dãy núi Ba Vì
thuộc huyện Ba Vì, nơi được người dân gọi là Tản Viên Sơn. Nơi đây gắn liền với
truyền thuyết vua Hùng kén rể cho Mị Nương công chúa, và đã diễn ra cuộc đọ sức
đua tài giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh.
Đến Tản Viên Sơn, bạn sẽ thoả sức tận hưởng cảnh sắc
thiên nhiên hùng vĩ và thư giãn trong bầu không khí trong lành của núi rừng
trùng điệp đã có từ bao đời nay.
Điểm du lịch này được chia ra làm 3 khu chính: hồ Hạ
Sơn, Vọng Lâu; khu biệt thự trên cao; thác Cổng Trời với các dịch vụ leo núi,
tắm hồ, lội suối…
6. SUỐI NGỌC
- VUA BÀ
Địa chỉ: xã Tiến Quân, Quốc Oai, Hà Nội
Chỉ cách thủ đô Hà Nội hơn 30 km về phía Nam, du
khách có thể thực hiện chuyến tham quan và nghỉ ngơi tại thắng cảnh Suối Ngọc -
Vua Bà.
Tại đây, khách có thể đi bộ, leo núi, cưỡi ngựa và
chiêm ngưỡng những thác, ghềnh tầng tầng lớp lớp nối tiếp nhau, đặc biệt có thác
9 tầng cao 100 m nước đổ ào ào trắng xoá suốt ngày đêm. Những vũng tắm dưới chân
thác với làn nước trong xanh, tinh khiết của 3 con suối đầu nguồn là sự ban tặng
hào hiệp của thiên nhiên cho con người. Bên những dòng suối là 2 khu vui chơi
nước có 18 làn trượt luôn phục vụ những du khách thích cảm giác mạnh.
Bạn sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước những kiểu dáng
của nhà sàn Mường, nhà sàn Tày. Dưới tán cây bên dòng suối thấp thoáng bóng nhà
sàn nhỏ xinh để du khách nghỉ chân khi về đây thưởng ngoạn. Nếu muốn bạn có thể
tham dự các trò chơi dân gian như bắn cung, bắn nỏ, ném còn, đi cà kheo, múa hát
cồng chiêng, đêm lửa trại. Du khách cũng sẽ được thưởng thức các món ăn dân tộc
phong phú như cơm lam, rượu cần, thịt gà nướng, lợn sữa nướng và các món ăn độc
đáo của miền rừng núi.
Suối Ngọc - Vua Bà còn là khu căn cứ kháng chiến,
nơi luyện quân của Hai Bà Trưng trong những năm đầu của thế kỷ thứ nhất.
7. ĐỒNG MÔ
Địa chỉ: Đồng Mô là một khu du lịch thuộc địa
phận
thị xã Sơn Tây
và một phần huyện
Ba Vì,
Hà Nội.
Khu du lịch Đồng Mô bao gồm một
hồ chứa nước
rộng khoảng 200 ha, nằm trong vùng chân
núi Ba Vì, các
khu nghỉ dưỡng nằm rải rác trên các hòn đảo trên hồ. Khách du lịch tới đây được
đi tham quan lòng hồ, ngắm cảnh núi non hùng vỹ, sơn thủy hữu tình và các dịch
vụ câu cá, ẩm thực theo phong cách dân tộc. Đặc biệt trong khu du lịch Đồng Mô
có một sân golf nổi tiếng: Sân golf Đồng Mô - 36 lỗ nằm trên các đảo ở giữa hồ
Đồng Mô, thuộc địa phận thị xã Sơn Tây.
Theo truyền thuyết
Sơn Tinh - Thủy Tinh,
khu vực lòng hồ Đồng Mô hiện nay là nơi đại thủy chiến giữa Sơn Tinh (thần núi
Tản Viên) và Thủy Tinh (thần nước) để giành giật công chúa Mị Nương. Trong trận
chiến đó, Thủy Tinh dâng nước cùng với các loài thủy tộc lên đánh Sơn Tinh, Sơn
Tinh làm phép dâng núi lên cao, nước dâng đến đâu, núi cao đến đó, cuối cùng
Thủy Tinh chịu bại trận. Vì thế nên đỉnh núi Ba Vì đến nay cao hơn 1.000m, trên
đỉnh núi vẫn còn đền
Đều là du lịch sinh thái nhưng Đồng Mô có ưu thế
riêng mà không nơi nào có được, đó là diện tích mặt hồ Đồng Mô rộng lớn và đảo
Phượng. Có lẽ vì vậy mà những người làm du lịch ở đây đã tập trung vào khai thác
thế mạnh này. Khu du lịch được chia làm 3 khu nhỏ với những đặc sản du lịch khác
nhau, tạo thành tour du lịch khép kín mà ở đó hội tụ đủ 3 yếu tố khiến những
người yêu thiên nhiên ưa thích: nghỉ ngơi thư giãn, giải trí và thưởng thức ẩm
thực.
8. THÁC ĐA
Địa chỉ: Ba Vì, Hà Nội
Nằm trong quần thể du lịch nổi tiếng Ao Vua, Suối
Mơ, Suối Hai, Thác Đa trải rộng 100 ha sát chân núi Ba Vì với khung cảnh thiên
nhiên hoang sơ hùng vĩ, mang dấu ấn lịch sử cũng như những nét văn hóa truyền
thống.
Ra khỏi địa phận Hà Nội 60 km về phía Tây, đến Thác
Đa, du khách sẽ cảm thấy như đang sống giữa những bộ tộc của người Việt cổ. Khu
trung tâm rộng khoảng 100 m2, là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt
động văn hóa nghệ thuật dân gian và hiện đại như chèo, quan họ, ca múa nhạc tổng
hợp... Quanh đó là những nhà nghỉ theo mô hình nhà sàn truyền thống của dân tộc
Mường, Thái len lỏi giữa rừng cây ven núi.
Nét đẹp nhất của Thác Đa là con suối chảy từ trên
núi xuống tung bọt trắng xóa như một dải lụa bạc khổng lồ nổi bật giữa màu xanh
của núi rừng. Những quán bar thiết kế kiểu nhà sàn cũng hết sức độc đáo. Ở khu 2
có bể bơi, hồ câu cá, sân thể thao, vườn trái cây, các món ăn dân tộc… hòa thành
một ấn tượng không dễ phai mờ./.