Phát triển nông nghiệp tiêu dùng xanh- bảo vệ môi trường, thân thiện, hiệu quả

15/10/2026 11:01 AM

(Chinhphu.vn) - Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học và vật liệu thân thiện với môi trường trong bảo quản, chế biến nông sản là hướng đi tất yếu để ngành nông nghiệp Thủ đô phát triển bền vững và hiệu quả.

Phát triển nông nghiệp tiêu dùng xanh- bảo vệ môi trường, thân thiện, hiệu quả- Ảnh 1.

Sử dụng bao bì xanh trong sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Sở NN&MT

Hà Nội có thị trường tiêu thụ rộng lớn và hệ thống phân phối ngày càng đa dạng, nông sản Hà Nội phải đáp ứng yêu cầu từ nhiều kênh như: Siêu thị, cửa hàng thực phẩm và các hệ thống phân phối hiện đại. Vì vậy, ngoài việc chú trọng nâng năng suất và chất lượng sản phẩm thì cần phải kiểm soát tốt hơn vấn đề kiểm soát và bảo quản sau thu hoạch.

Theo đó, ứng dụng công nghệ cao đang tạo điều kiện kiểm soát hiệu quả hơn các công đoạn này. Hệ thống kho lạnh, thiết bị kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, dây chuyền phân loại, sơ chế và đóng gói giúp hạn chế dập nát, mất nước, giảm chất lượng trong quá trình lưu trữ và vận chuyển. Tại các cơ sở chế biến, việc kiểm soát nguyên liệu đầu vào và các thông số sản xuất cũng góp phần ổn định chất lượng sản phẩm. Công nghệ số hỗ trợ quản lý thông tin về vùng nguyên liệu, thời điểm thu hoạch, sơ chế, bảo quản và vận chuyển, tạo cơ sở cho truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng trong toàn chuỗi.

Ngoài ra, công nghệ sinh học mở thêm hướng xử lý phù hợp với đặc tính của từng nhóm nông sản. Các chế phẩm sinh học, vi sinh vật có lợi, enzyme hoặc vật liệu có nguồn gốc sinh học có thể được nghiên cứu, lựa chọn để hỗ trợ kiểm soát quá trình biến đổi, hạn chế hư hỏng và duy trì chất lượng sản phẩm. Việc nghiên cứu vật liệu sinh học từ tinh bột, phụ phẩm nông nghiệp và các nguồn nguyên liệu phù hợp còn góp phần tận dụng tốt hơn nguồn tài nguyên trong sản xuất, mở ra khả năng thay thế một phần vật liệu truyền thống.

Mặc dù vậy, mỗi loại nông sản có đặc tính khác nhau về độ ẩm, cấu trúc, khả năng hô hấp, thời gian sử dụng và điều kiện chế biến. Vì vậy, giải pháp cần được lựa chọn trên cơ sở đặc điểm nguyên liệu, yêu cầu an toàn thực phẩm, khả năng vận hành và hiệu quả kinh tế. Với hợp tác xã, hộ sản xuất và doanh nghiệp nhỏ, chi phí đầu tư vẫn là yếu tố quan trọng quyết định khả năng tiếp cận công nghệ.

Trong chuỗi bảo quản và chế biến, bao bì cũng có vai trò trực tiếp đối với chất lượng sản phẩm và môi trường. Bao bì thân thiện với môi trường không chỉ đơn thuần là thay thế túi nylon hay vật liệu truyền thống, mà phải đồng thời bảo đảm an toàn thực phẩm, phù hợp với đặc tính sản phẩm, hỗ trợ bảo quản và đáp ứng yêu cầu vận chuyển, phân phối.

Giá thành hiện vẫn là một trong những điểm nghẽn khi mở rộng sử dụng bao bì xanh. Các hệ thống phân phối có xu hướng tiếp nhận sản phẩm thân thiện với môi trường, nhưng nếu chi phí bao bì cao và đầu ra chưa ổn định, doanh nghiệp, hợp tác xã khó mở rộng quy mô. Do đó, cùng với nghiên cứu vật liệu mới, cần quan tâm đến khả năng sản xuất ở quy mô lớn, tính tiện dụng và mức giá phù hợp với từng nhóm nông sản.

Từ yêu cầu thực tế, việc xây dựng mô hình thử nghiệm, trình diễn và chuyển giao có ý nghĩa quan trọng trong đưa công nghệ từ nghiên cứu vào sản xuất. Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội có thể phát huy vai trò định hướng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, kết nối cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và hệ thống phân phối, qua đó lựa chọn những giải pháp phù hợp với nhu cầu thực tế, tiêu chuẩn và thị trường.

Khi công nghệ bảo quản, chế biến được lựa chọn phù hợp, sẽ giúp giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng giá trị sản phẩm, tận dụng tốt hơn phụ phẩm nông nghiệp, giảm chất thải và thúc đẩy sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn, phát thải thấp.

Thiện Tâm

Top