Thúy Hội thưa dần tiếng búa rèn
(Chinhphu.vn) - Xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Nội thuộc vùng đất Tổng Gối thuở xưa vốn nổi tiếng với nghề mộc, rèn, dệt và chăm tằm kéo kén. Đặc biệt ở thôn Thúy Hội, nghề rèn trước đây được phát triển khá mạnh mẽ nhưng trong đổi thay của kinh tế thị trường làng nghề này đang dần mai một...
![]() |
| Nghề rèn ở thôn Thúy Hội, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng - Ảnh: Nguyễn Dũng |
Vất vả giữ nghề
Về Thúy Hội bây giờ, giữa nhịp sống ồn ào, náo nhiệt bởi hoạt động buôn bán, giao thương của làng quê ven đô đang trên đà phát triển, lắng tai nghe mới thấy tiếng leng leng, lách cách thưa thớt phát ra từ những lò rèn. Men theo thanh âm ấy, chúng tôi tìm đến xưởng rèn của anh Đông Văn Tiến nằm khá sâu trong ngõ nhỏ. Dừng tay nện búa và gạt gọn đống dao đang đánh dở, anh Tiến thở dài kể về những thăng trầm của nghề rèn Thúy Hội. Gần 40 năm biết đến nghề rèn, giờ đây anh làm nghề cũng chỉ như để duy trì cho “trọn nghiệp” và giữ các mối làm ăn lâu năm bởi hoạt động ngày càng khó khăn. Nếu như trước đây, cơ sở rèn của anh Tiến thường xuyên phải thuê 5 - 6 lao động, nhưng giờ chỉ còn hai vợ chồng làm túc tắc, mỗi ngày cho ra lò trung bình 30 con dao, trừ hết chi phí được khoảng 300.000 đồng.
Cũng trong tình cảnh hoạt động khá cầm chừng là lò rèn của anh Nguyễn Thạc Hưởng, một người có 24 năm thâm niên trong nghề. Trong xưởng rèn rộng chừng 20 m2 chỉ có mình anh Hưởng ngồi hì hụi nung chuôi dao trong bếp than đỏ rực rồi tra cán. Anh chia sẻ, trước đây cơ sở của anh có 4 - 5 nhân công làm nhưng số lao động cứ bỏ dần vì chán nghề. Bản thân anh Hưởng hiện cũng chỉ làm duy nhất sản phẩm dao phay và sản xuất theo đơn hàng đặt trước, bình quân mỗi ngày làm ra khoảng 40 - 50 con dao. “Nhiều người bỏ nghề rèn chuyển sang làm mộc, may mặc vì thu nhập cao hơn” - anh Hưởng cho biết.
Ông Nguyễn Gia Sơn là một người thợ rèn lão luyện tâm sự, từ năm 1983, ông đã bắt tay vào làm nghề này. Sản phẩm của nghề rèn chủ yếu để phục phụ sản xuất nông-lâm nghiệp và một ít dùng trong sinh hoạt như: liềm, cuốc, xẻng, dao khoắm phát rừng, kéo cắt chè, dao, bếp kiềng… Thời xưa, những mặt hàng này rất được ưa chuộng. Hàng không chỉ bán trên địa bàn xã, huyện mà còn được đưa nhiều đi các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Vĩnh Phúc.
Tuy nhiên, theo ông Sơn, đến bây giờ, thị trường của nghề rèn Tân Hội đã giảm đi 90% so với trước kia.
Khó khăn của làng rèn Thúy Hội bắt đầu khi nhiều sản phẩm cùng loại của Trung Quốc tràn ngập thị trường với giá rẻ hơn gấp 2 - 3 lần. Hơn nữa, trước đây sản phẩm của làng rèn Thúy Hội khá đa dạng, từ dao, kéo, liềm đến cuốc, xẻng, cày, bừa… Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của cơ giới hóa trong nông nghiệp, nhu cầu sử dụng các nông cụ rèn cũng ít đi. Bên cạnh đó, mặt bằng sản xuất cũng ngày càng khó khăn khiến cho số người theo nghề bị rơi rụng dần. Theo thống kê, hiện toàn xã Tân Hội chỉ có khoảng 50 - 60 hộ làm nghề, trong đó đa số là hoạt động cầm chừng, quy mô sản xuất nhỏ.
Cần một hướng đi riêng
Sản phẩm của làng rèn Thúy Hội được cánh thương lái và người tiêu dùng đánh giá cao bởi chất lượng tốt bởi nguyên liệu hoàn toàn bằng thép, lại được tán, tôi, mài dũa cẩn thận. Dù chưa có thương hiệu tiếng tăm nhưng các sản phẩm dao, kéo của Thúy Hội đã có mặt ở nhiều nơi trên cả nước từ Bắc vào Nam, thậm chí còn được DN đặt hàng xuất khẩu sang Đông Âu. Hoạt động sản xuất cũng được cải tiến nhiều với sự góp mặt của các loại máy móc như máy cắt, máy hàn, máy quay, búa máy… Thế nhưng, điều đáng buồn là có lẽ giờ đây, ngày càng ít người biết đến nghề rèn ở Thúy Hội.
Trong làng Thúy Hội vẫn còn Đền thờ ông Tổ của nghề rèn, song điều làm cho những người làm nghề băn khoăn là số phận làng nghề rồi sẽ đi về đâu? Đa số thợ rèn được hỏi đều thành thật tâm sự, họ chỉ làm nốt đời mình chứ khó lòng tìm được người kế nghiệp bởi lớp trẻ ngày nay tìm hướng lập nghiệp ở những ngành nghề khác. Theo một số thợ rèn tâm huyết, để giữ được nghề truyền thống hiện nay, chỉ có cách gom các hộ làm nghề ra một khu tập trung, có mặt bằng sản xuất rộng rãi để cùng hỗ trợ nhau phát triển. Tuy nhiên, mong muốn ấy rất khó trở thành hiện thực.
Ông Nguyễn Vỹ Hùng, Phó Chủ tịch UBND xã Tân hội cho biết, trước hiện trạng đô thị hóa, những năm tới đất nông nghiệp ở xã Tân Hội sẽ còn tiếp tục thu hẹp lại. Trong bối cảnh đó, các nghề truyền thống của Tân Hội càng gánh trên vai trách nhiệm lớn lao vào việc giải quyết công ăn việc làm cho bà con trong xã.
Ông Hùng cho rằng, do nhu cầu tiêu dùng giảm nên rất khó để phát triển nghề rèn, dệt. Tuy nhiên, ông vẫn hy vọng những nghề này sẽ không bị xóa sổ trên địa bàn xã bởi nó đã từng một thời mang thương hiệu rèn, dệt Tân Hội.
Nguyễn Dũng
