Tìm giải pháp cung ứng nguyên liệu cho phát triển làng nghề
(Chinhphu.vn) - Mặc dù có nhiều tiềm năng phát triển nhưng hiện nay vấn đề cung cấp nguyên vật liệu phục vụ cho phát triển làng nghề gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Vi vậy cần phải hoàn thiện các chính sách về đất đai, vùng nguyên liệu; định hướng phát triển vùng nguyên liệu, đầu tư phát triển các vùng nguyên liệu tập trung, ổn định để cung cấp nguyên liệu cho các làng nghề.

Lưu giữ, bảo tồn và phát triển, truyền nghề mây tre đan tại xã Phú Vinh, huyện Chương Mỹ. Ảnh: VGP/Thiện Tâm
Ngày 14/12, Sở NN&PTNT tổ chức Hội thảo "Một số giải pháp kết nối vùng nguyên liệu để phát triển làng nghề trên địa bàn TP. Hà Nội".
Thủ tướng hiện đã ban hành Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 7/7/2022 việc "Phê duyệt chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030", với nhiều giải pháp thực hiện thiết thực nhằm đạt được mục tiêu nâng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công do các làng nghề sản xuất. Theo quyết định này, việc phát triển nguyên liệu tập trung phục vụ làng nghề cũng như xây dựng các mô hình làng nghề tiêu biểu gắn với vùng nguyên liệu có chứng chỉ bền vững được đặc biệt ưu tiên.
Ông Nguyễn Văn Chí, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn Hà Nội cho biết, hiện thành phố Hà Nội có 806 làng có 318 làng nghề, làng nghề truyền thống đã được công nhận thuộc 23 quận, huyện và thị xã. Trong đó có 270 làng được công nhận danh hiệu làng nghề, 48 làng được công nhận danh hiệu làng nghề truyền thống. Bao gồm 67 làng nghề chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; 22 làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; 16 làng nghề xử lý, chế biến nguyên liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn… Có thể thấy, các làng nghề, làng nghề truyền thống đã và đang góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế nông thôn, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động tại các địa phương, tạo tiền để thực hiện thành công chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.
Các sản phẩm của làng nghề đa dạng nhiều chủng loại, mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, một số có thể mạnh cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, điển hình như: Sản phẩm may mặc; sản phẩm gốm sứ, sản phẩm dệt và thêu ren truyền thông, đồ gỗ phục vụ tiêu dùng và xây dựng, sản phẩm cơ khí, chế biến nông sản thực phẩm…
Năm 2021, do ảnh hưởng của dịch COVID-19 kéo dài khiến hoạt động sản xuất và kinh doanh của nhiều làng nghề Hà Nội bị đình trệ (đặc biệt là hoạt động xuất khẩu hàng hóa và du lịch làng nghề). Hầu hết, các cơ sở sản xuất làng nghề đang phải đối mặt với nhiều khó khăn từ nguồn nguyên liệu đầu vào, nhân lực nguồn vốn cho đến đầu ra sản phẩm,... số lao động nghỉ việc nhiều, thu nhập bình quân của người lao động ở các làng nghề giảm mạnh, tuy nhiên vẫn cao hơn so với lao động thuần nông.
Theo ông Nguyễn Văn Chí, năm 2022, tại hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam do Bộ NN &PTNT tổ chức, Hà Nội đã đạt 25/48 giải thưởng. Về đăng ký nhãn hiệu, thương hiệu làng nghề. Từ năm 2020 đến nay Chi cục đã tham mưu tổ chức xây dựng thương hiệu và đăng ký nhãn hiệu cho 30 làng nghề, trong năm 2022 sẽ tổ chức đăng ký, xây dựng thêm khoảng 10 làng nghề.
Mặc dù có nhiều tiềm năng phát triển như vậy nhưng hiện nay vấn đề cung cấp nguyên vật liệu phục vụ cho phát triển làng nghề gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Nguồn nguyên liệu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam gồm các chủng loại chính như: Tre, mây, gỗ, cói lục bình, bẹ chuối, nguyên liệu gốm sứ, sợi... Tuy nhiên, tình trạng thiếu hụt nguyên liệu đã diễn ra trên diện rộng những năm gần đây do nhu cầu sản xuất, chế biến sản phẩm tăng cao, trong lúc các vùng nguyên liệu ngày càng bị thu hẹp, khai thác tràn lan, công tác quản lý ở nhiều địa phương lỏng lẻo.
Nếu như trước đây, hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu trong nước thì đến nay chúng ta đã phải nhập khẩu 50%. Như nguyên liệu phục vụ chế biến nông, lâm, thủy sản, việc phát triển vùng nguyên liệu nông nghiệp hàng hóa tập trung hiện còn gặp nhiều khó khăn do thiếu quy hoạch tổng thể, ổn định lâu dài trên quy mô cả nước, chất lượng nguyên liệu chưa đồng đều, tỷ lệ áp dụng sản xuất theo tiêu chuẩn chứng nhận chất lượng, truy xuất được nguồn gốc xuất xứ còn thấp. Các loại nguyên liệu dùng để sản xuất các sản phẩm đặc trưng địa phương dung có xu hướng giảm do nông dân chạy theo năng suất, sản lượng thuần túy.

Các sản phẩm từ làng nghề Thụy Ứng, huyện Thường Tín. Ảnh: VGP/Thiện Tâm.
Hà Nội có 196 làng nghề sản xuất đồ gỗ và mây tre giang đan, gốm sứ, dệt may, sợi thêu ren nhưng cung nguyên liệu thiếu ổn định cả về số lượng, chất lượng và thời gian giao hàng đã tác động không nhỏ tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành nghiệp làng nghố Hà Nội, nhất là khi triển khai các đơn hàng lớn, hàng xuất khẩu. Nhóm ngành nghề gốm sứ đang rất thiếu nguồn nguyên liêu, mặc dù chỉ có 5 làng nghề sản xuất mặt hàng này, với hơn 4.000 doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất cá thể nhưng sức tiêu thu lên tới gần 600 nghìn tấn nguyên liệu đất sét và cao lanh mỗi năm. Riêng nguyên liệu gỗ là nhóm phải nhập khẩu nhiều nhất do các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu đang thiếu trầm trọng nguồn nguyên liệu trong nước. Nguồn gỗ nhập khẩu từ của nước như Campuchia, Lào, Malaysia... không ổn định, trong lúc nguồn nhập khẩu từ các quốc gia ở các châu lục khác chi phí vận chuyển quá cao làm cho giá thành nguyên liệu tăng, giảm sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam. Trong khi tổng nhu cầu về nguyên liệu gỗ của các làng nghề Hà Nội lên tới hơn 1 triệu mét khối/năm. Ngành mây, tre xuất khẩu hiện nay có không ít cơ hội phải hoạt động cầm chừng, nhiều cơ sở thiếu nguyên liệu sản xuất vì không chủ động được nguyên liệu đầu vào.
Vì vậy, để khắc phục khó khăn, tìm ra giải pháp đáp ứng nguồn cung nguyên liệu cho phát triển làng nghề, theo ông Nguyễn Văn Chí, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn Hà Nội, cần phải hoàn thiện các chính sách về đất đai, vùng nguyên liệu: Dành quỹ đất để xây dựng các cụm công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề nhằm di dài các cơ sở sản xuất trong khu dân cư vào sản xuất tập trung. Đồng thời hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp, hợp tác xã, cá nhân trong việc cho thuê đất, tích tụ đất đai để phát triển vùng nguyên liệu tập trung phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; điều chỉnh giảm giá thuê đất đối với các cơ sở sản xuất ngành nghề nông thôn trong các cụm công nghiệp, vùng nguyên liệu sản xuất tập trung phục vụ sản xuất.
Định hướng phát triển vùng nguyên liệu, đầu tư phát triển các vùng nguyên liệu tập trung, ổn định để cung cấp nguyên liệu cho các làng nghề. Hỗ trợ phát triển các nguồn nguyên liệu có chứng chỉ bền vững, phù hợp quy chuẩn quốc tế và nguồn liệu thích ứng, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Ưu tiên phát triển một số sản phẩm chủ lực như: Mây tre lá, gốm sứ, thêu dệt, dược liệu...tại các địa phương có điều kiện.
Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về ngành nghề làng nghề nông thôn tại các địa phương trên toàn quốc xây dựng chuỗi liên kết ổn định, từ tạo vùng nguyên liêu đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngành nghề trên địa bàn. Đồng thời, tạo sự gắn kết, hợp đồng chặt chẽ để vùng nguyên liệu và các cơ sở sản xuất cùng giúp đỡ nhau phát triển, tạo thu nhập ổn đinh cho người lao động, góp phần tích cực vào xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Thiện Tâm