Khơi dậy sức sáng tạo của thế hệ trẻ Thủ đô

26/02/2026 7:19 PM

(Chinhphu.vn) - Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời đại hội nhập không chỉ dừng ở bảo tồn mà phải gắn với sáng tạo và đổi mới. Để truyền thống không trở thành “ký ức của quá khứ” mà tiếp tục là nguồn lực sống động của hiện tại và tương lai, việc khơi dậy sức sáng tạo của thế hệ trẻ chính là chìa khoá quyết định.

Khơi dậy sức sáng tạo của thế hệ trẻ Thủ đô - Ảnh 1.

Để "đánh thức" sự sáng tạo của thế hệ trẻ cần có những cơ chế cụ thể - Ảnh minh họa.

Đánh thức nguồn lực sáng tạo trẻ trong bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc

Thủ đô Hà Nội là nơi kết tinh truyền thống nghìn năm văn hiến, nơi lưu giữ nhiều di sản vật thể và phi vật thể đặc sắc. Vì vậy, thanh niên Thủ đô không chỉ tiếp cận nhanh với công nghệ, xu hướng toàn cầu, mà còn có điều kiện thuận lợi để khai thác chiều sâu văn hoá dân tộc làm nền tảng sáng tạo. 

Khi người trẻ Hà Nội chủ động đưa chất liệu văn hoá Thăng Long vào sản phẩm truyền thông, nghệ thuật, thiết kế hay khởi nghiệp sáng tạo, họ đang góp phần lan toả bản sắc Việt Nam từ trung tâm ra cả nước và quốc tế.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, để "đánh thức" sự sáng tạo của thế hệ trẻ cần có những cơ chế cụ thể như: Đưa giáo dục văn hoá và lịch sử theo hướng trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường; xây dựng các quỹ hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá; phát triển không gian sáng tạo, lễ hội, sân chơi văn hoá dành cho thanh niên; khuyến khích các nền tảng số lan toả nội dung văn hoá Việt Nam.

Quan trọng hơn, xã hội cần trao cho người trẻ niềm tự hào về bản sắc dân tộc. Khi họ cảm thấy văn hoá Việt Nam không chỉ là ký ức, mà là lợi thế cạnh tranh, là nguồn cảm hứng sáng tạo và cơ hội nghề nghiệp, việc bảo tồn và phát huy bản sắc không chỉ là nhiệm vụ mà trở thành một lựa chọn tự nhiên của thế hệ mới.

Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá và chuyển đổi số diễn ra với tốc độ nhanh chóng, thách thức lớn nhất đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc không chỉ là sự "xâm nhập" của các giá trị ngoại lai, mà sâu xa hơn là nguy cơ phai nhạt hệ giá trị bên trong của chính chúng ta. Khi kinh tế thị trường thúc đẩy lối sống thực dụng, khi không gian mạng tạo ra những dòng chảy văn hoá đa chiều, không kiểm soát, thì nếu không có "bộ lọc văn hoá" đủ mạnh, xã hội rất dễ rơi vào tình trạng lai tạp, đứt gãy truyền thống, đặc biệt ở thế hệ trẻ.

Một thách thức khác là sự thương mại hoá và giản lược văn hoá. Không ít giá trị di sản, lễ hội, nghệ thuật truyền thống bị biến thành sản phẩm tiêu dùng ngắn hạn, mất đi chiều sâu tinh thần. Văn hoá nếu chỉ được nhìn như công cụ khai thác du lịch hay kinh tế mà thiếu nền tảng nghiên cứu, bảo tồn đúng mức thì rất dễ bị "bề nổi hoá". Bên cạnh đó, thách thức còn đến từ chính nội tại hệ thống quản lý: nguồn lực đầu tư cho văn hoá còn hạn chế, cơ chế phối hợp chưa đồng bộ, công nghệ số chưa được khai thác hiệu quả trong bảo tồn và lan toả giá trị truyền thống.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng thách thức cũng chính là cơ hội. Toàn cầu hoá không chỉ làm mờ bản sắc, mà còn tạo điều kiện để bản sắc Việt Nam được khẳng định nếu chúng ta có chiến lược đúng. Vấn đề cốt lõi là phải xây dựng sức "đề kháng" văn hoá của xã hội, củng cố hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình và con người Việt Nam, để mỗi người dân tự hào, tự giác gìn giữ văn hoá như một phần căn tính của mình.

Trong cách tiếp cận hiện nay, cách tiếp cận đúng là bảo tồn giá trị cốt lõi nhưng đổi mới hình thức thể hiện. Di sản cần được số hoá; nghệ thuật truyền thống cần được tái sáng tạo trong các sản phẩm công nghiệp văn hoá; câu chuyện văn hoá Việt Nam cần được kể bằng ngôn ngữ truyền thông hiện đại. Giữ bản sắc không phải là quay về quá khứ, mà là mang tinh thần truyền thống để định hướng cho tương lai.

Để công tác bảo tồn văn hoá trở thành động lực phát triển

Ông Bùi Hoài Sơn cho rằng, để công tác bảo tồn văn hoá trở thành động lực phát triển, chính sách văn hoá cần được chuyển mạnh từ tư duy "bảo tồn thụ động" sang tư duy phát triển dựa trên văn hoá. Điều đó trước hết đòi hỏi phải xác định rõ văn hoá không chỉ là lĩnh vực tinh thần, mà còn là nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của quốc gia.

Thứ nhất, cần hoàn thiện thể chế theo hướng tạo điều kiện cho xã hội hoá và hợp tác công – tư trong bảo tồn và khai thác di sản. Nhiều quốc gia đã thành công khi biến di sản thành nền tảng cho du lịch, công nghiệp sáng tạo, kinh tế địa phương, nhưng vẫn giữ được giá trị gốc.

Thứ hai, phải gắn bảo tồn với phát triển công nghiệp văn hoá. Khi các giá trị truyền thống được chuyển hoá thành sản phẩm văn hoá – sáng tạo như phim ảnh, thiết kế, trò chơi, biểu diễn nghệ thuật, sản phẩm thủ công… thì di sản không còn "nằm trong bảo tàng", mà trở thành một phần của nền kinh tế sáng tạo.

Thứ ba, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá, xây dựng cơ sở dữ liệu di sản, nền tảng số cho quảng bá và giáo dục văn hoá. Đồng thời, chính sách tài chính, thuế, đầu tư cho lĩnh vực văn hoá cần được thiết kế theo hướng khuyến khích sáng tạo và khởi nghiệp văn hoá.

Quan trọng hơn cả là thay đổi nhận thức: bảo tồn không phải là "giữ cho khỏi mất", mà là làm cho giá trị văn hoá tiếp tục sinh sôi trong đời sống kinh tế – xã hội, góp phần vào phát triển nhanh và bền vững đất nước theo tinh thần các nghị quyết mới về phát triển văn hoá.

Minh Thư

Top