Hà Nội giao quyền tự chủ kinh phí nghiên cứu, kiểm soát bằng kết quả đầu ra

02/11/2026 5:11 PM

(Chinhphu.vn) - Một cơ sở sản xuất gốm ở Bát Tràng muốn cải tiến công đoạn chế tác, một doanh nghiệp cần công nghệ tiết kiệm năng lượng, hay cơ quan quản lý tìm giải pháp giảm ô nhiễm đô thị đều có thể đặt ra bài toán cho giới nghiên cứu. Nhưng để ý tưởng trở thành sản phẩm sử dụng được, nguồn kinh phí phải đi cùng mục tiêu rõ ràng và quyền chủ động trong quá trình thực hiện. Đây là hướng Hà Nội đang cụ thể hóa từ Luật Thủ đô năm 2026.

Hà Nội giao quyền tự chủ kinh phí nghiên cứu, kiểm soát bằng kết quả đầu ra - Ảnh 1.

Tháng 9/2026, Hà Nội ghi nhận khoảng 160 đề xuất đặt hàng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.Ảnh: Thu Nga

Từ nhu cầu thực tế đến nhiệm vụ nghiên cứu

Tại phiên đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày 25/9, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội Cù Ngọc Trang nêu thực tế nhiều cơ sở làng nghề Bát Tràng, Vạn Phúc, Chuyên Mỹ, Sơn Đồng có tay nghề cao, sản phẩm phong phú nhưng vẫn cần công nghệ để nâng chất lượng và thiết kế. Trong khi đó, không ít kết quả nghiên cứu tại viện, trường thiếu địa chỉ ứng dụng.

Vấn đề vì thế không đơn thuần là có bao nhiêu đề tài được cấp tiền, mà là nhiệm vụ nghiên cứu có giải quyết đúng khó khăn của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất hay đời sống đô thị. Tháng 9/2026, Hà Nội ghi nhận khoảng 160 đề xuất đặt hàng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Con số cho thấy nhu cầu lớn, song đề xuất đặt hàng chưa đồng nghĩa với nhiệm vụ được phê duyệt hoặc đã có sản phẩm ứng dụng.

Điểm d khoản 1 Điều 18 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 đặt yêu cầu phân bổ, sử dụng ngân sách khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, minh bạch, dựa trên kết quả đầu ra. Điểm a khoản 3 Điều 18 giao UBND Thành phố quy định việc khoán chi đối với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách Hà Nội.

Cơ chế khoán chi thay đổi điều gì?

Ngày 24/8/2026, UBND Thành phố ban hành Quyết định 121/2026/QĐ-UBND quy định khoán chi trong thực hiện các nhiệm vụ này. Văn bản có hiệu lực từ ngày 3/9/2026.

Theo quyết định, khoán chi là phương thức giao quyền tự chủ tài chính cho tổ chức chủ trì và chủ nhiệm nhiệm vụ trên cơ sở định mức, dự toán và chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đầu ra đã được phê duyệt. Khi thanh toán, quyết toán phần kinh phí được khoán, không yêu cầu kiểm soát chứng từ chi tiết như đối với khoản chi không khoán.

Điều này tạo khoảng chủ động cần thiết cho nhóm nghiên cứu trong việc tổ chức công việc và sử dụng phần kinh phí đã được khoán. Tuy nhiên, khoán chi không phải cấp tiền vô điều kiện. Mục tiêu, sản phẩm, tiến độ, chỉ tiêu chất lượng và dự toán vẫn phải được xác định, xem xét theo quy định; các khoản không thuộc phạm vi khoán tiếp tục chịu chế độ kiểm soát tương ứng.

Một điểm đáng chú ý là phụ lục Quyết định 121 gắn hệ số xác định mức khoán với yêu cầu sản phẩm. Bên cạnh công bố khoa học, sáng chế, văn bản đề cập bí quyết công nghệ, sản phẩm có khả năng ứng dụng hoặc thương mại hóa và giải pháp chính sách được chấp thuận thử nghiệm. Với nhiệm vụ trọng điểm, yêu cầu về số lượng, chất lượng kết quả cao hơn.

Cách quy định này hướng tới phân biệt nhiệm vụ theo mức độ đòi hỏi của sản phẩm, thay vì nhìn mọi đề tài như nhau. Hệ số không phải tiền thưởng tự động: mức kinh phí còn phụ thuộc loại nhiệm vụ, dự toán và việc đáp ứng điều kiện được phê duyệt.

Tự chủ nhưng không buông lỏng ngân sách

Khi chuyển trọng tâm sang kết quả đầu ra, trách nhiệm của cơ quan đặt hàng cũng thay đổi. Nếu mục tiêu ban đầu mơ hồ, đến lúc nghiệm thu sẽ khó xác định nghiên cứu có giải quyết được vấn đề hay không. Ngược lại, nhiệm vụ xuất phát từ yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý sẽ thuận lợi hơn khi xác định sản phẩm cần bàn giao và địa chỉ tiếp nhận.

Quyết định 121 vẫn quy định trách nhiệm của tổ chức chủ trì, chủ nhiệm nhiệm vụ, việc quản lý, điều chỉnh, thanh toán, quyết toán, kiểm tra, giám sát và quản trị rủi ro. Việc không kiểm soát chứng từ chi tiết đối với phần khoán không loại bỏ nghĩa vụ sử dụng ngân sách đúng mục đích và chịu trách nhiệm về kết quả.

Từ góc nhìn người dân, hiệu quả của cơ chế này cuối cùng phải thể hiện ở những ứng dụng có ích: công nghệ giúp làng nghề giảm hao phí nguyên liệu, giải pháp hỗ trợ xử lý môi trường, hoặc quy trình số giúp giảm thời gian giải quyết công việc. Đây là các hướng ứng dụng cần được kiểm chứng bằng nhiệm vụ và sản phẩm cụ thể, chưa thể coi là thành quả đã phát sinh từ Quyết định 121.

Cơ chế mới đã có hiệu lực, còn kết quả cần thời gian để đánh giá. Khi Hà Nội đặt hàng từ nhu cầu thực tế và giao quyền chủ động gắn với sản phẩm được kiểm chứng, kinh phí nghiên cứu có cơ hội đi gần hơn tới nơi cần sử dụng. Đó cũng là thước đo để bảo đảm mỗi khoản ngân sách dành cho khoa học, công nghệ tạo ra giá trị tương xứng.

Minh Anh

Top