Luật Thủ đô 2026: Hà Nội được quy định cơ chế khai thác tài sản công
(Chinhphu.vn) - Luật Thủ đô năm 2026 trao cho UBND thành phố Hà Nội thẩm quyền quy định việc quản lý, sử dụng, khai thác tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập và tài sản kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi quản lý. Các phương thức khai thác phải bảo đảm đúng mục đích, công năng của tài sản, công khai thông tin và chịu sự giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.

Thẩm quyền của UBND thành phố Hà Nội đối với tài sản công, kết cấu hạ tầng được thực hiện trong phạm vi quản lý của Hà Nội, gắn với các nguyên tắc về hiệu quả sử dụng, mục đích, công năng, tính minh bạch và trách nhiệm kiểm soát . Infographic: Chinhphu.vn
Theo Điều 23 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, UBND thành phố Hà Nội được quy định các phương thức quản lý, sử dụng, vận hành và khai thác tài sản công, tài sản kết cấu hạ tầng trong phạm vi quản lý của thành phố.
Quy định này tạo cơ sở để Hà Nội chủ động lựa chọn phương thức khai thác phù hợp với từng loại tài sản, đồng thời xác định những nguyên tắc bắt buộc nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng và phòng ngừa thất thoát nguồn lực nhà nước.
Ba nhóm cơ chế khai thác tài sản công
Khoản 1 Điều 23 quy định ba nhóm nội dung thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố.
Trước hết, thành phố được quy định việc quản lý, sử dụng, vận hành và khai thác tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết hoặc phương thức khác.
Việc lựa chọn phương thức khai thác phải phù hợp với tính chất, công năng của tài sản và các điều kiện quản lý được pháp luật quy định. Đây là cơ sở để thành phố xây dựng quy định cụ thể đối với hoạt động khai thác tài sản tại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý.
Nhóm thứ hai liên quan đến việc thuê, thuê mua hoặc mua công trình, tài sản được đầu tư, xây dựng, tạo lập từ hoạt động đầu tư kinh doanh hoặc nguồn vốn không thuộc ngân sách nhà nước.
Theo luật, các công trình, tài sản này có thể được thuê, thuê mua hoặc mua để quản lý, sử dụng, vận hành, khai thác hoặc hình thành tài sản công, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích, phúc lợi xã hội và các mục đích công cộng khác.
Đối với phương thức này, việc thỏa thuận với chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình, tài sản phải bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện. Như vậy, việc Nhà nước tiếp nhận quyền sử dụng hoặc sở hữu công trình, tài sản từ khu vực ngoài ngân sách phải dựa trên thỏa thuận và đáp ứng các điều kiện pháp luật.
Nhóm thứ ba là cơ chế khai thác tài sản kết cấu hạ tầng và các công trình, tài sản công khác do Nhà nước đầu tư, quản lý hoặc thuộc nhóm công trình, tài sản nêu trên.
Theo đó, UBND Thành phố được quy định việc chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác, cho thuê quyền khai thác hoặc phương thức khác trong quản lý, sử dụng, vận hành và khai thác những tài sản thuộc phạm vi luật định.
Điểm cần phân biệt là chuyển nhượng quyền thu phí hoặc chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác không đồng nghĩa với chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản công. Phạm vi quyền được chuyển giao phải được xác định theo phương thức khai thác và các thỏa thuận phù hợp với quy định pháp luật.
Khai thác tài sản phải đi đôi với kiểm soát thất thoát
Bên cạnh việc trao thẩm quyền, khoản 2 Điều 23 Luật Thủ đô đặt ra các nguyên tắc bắt buộc đối với việc ban hành và thực hiện quy định về khai thác tài sản công.
Theo đó, việc quản lý, sử dụng, vận hành và khai thác phải bảo đảm hiệu quả, đúng mục đích, công năng của tài sản, phù hợp với tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý. Đồng thời, phải phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm và cục bộ.
Đối với hoạt động chuyển nhượng quyền thu phí sử dụng, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác, cho thuê quyền khai thác và các phương thức khai thác khác, luật yêu cầu công khai thông tin cùng các cam kết trong hợp đồng, trừ thông tin bí mật theo quy định.
Đây là yêu cầu quan trọng khi tài sản công được giao cho tổ chức, cá nhân khai thác theo những phương thức khác nhau. Việc công khai thông tin và cam kết hợp đồng là căn cứ để theo dõi phạm vi khai thác, trách nhiệm của các bên và việc thực hiện những nghĩa vụ đã thỏa thuận.
Luật cũng quy định phải bảo đảm hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán trong quản lý và khai thác tài sản. Những hành vi vi phạm phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định pháp luật.
Như vậy, cơ chế tại Điều 23 không phải là việc cho phép khai thác tài sản công không có giới hạn. Thẩm quyền của UBND thành phố được thực hiện trong phạm vi quản lý của Hà Nội, gắn với các nguyên tắc về hiệu quả sử dụng, mục đích, công năng, tính minh bạch và trách nhiệm kiểm soát.
Việc cụ thể hóa các quy định này có ý nghĩa đối với quá trình huy động và sử dụng nguồn lực phục vụ phát triển Thủ đô. Để triển khai trên thực tế, thành phố cần xác định rõ phương thức quản lý, khai thác phù hợp với từng loại tài sản, bảo đảm lợi ích công cộng và yêu cầu bảo toàn nguồn lực nhà nước.
Minh Anh